Các Giám mục Hoa Kỳ bảo vệ luật: “Phá thai cho trẻ vị thành niên phải thông báo cho cha mẹ”

 

Các Giám mục Hoa Kỳ bảo vệ luật: “Phá thai cho trẻ vị thành niên phải thông báo cho cha mẹ”
Các Giám mục Hoa Kỳ bảo vệ luật: “Phá thai cho trẻ vị thành niên phải thông báo cho cha mẹ”


Trong một thư được viết vào ngày 16/3/2021, các Giám mục Hoa Kỳ của bang Illinois phản đối việc bãi bỏ luật: Phá thai cho trẻ vị thành niên phải thông báo cho cha mẹ.

Trong thư, các Giám mục khẳng định “Bãi bỏ quy định này sẽ dẫn đến kết quả bi thảm và không thể đảo ngược”. Các Giám mục trích dẫn thống kê của Bộ Y tế Illinois, theo đó kể từ khi Tòa án tối cao Illinois ban hành luật này vào năm 2013, các vụ phá thai đối với trẻ vị thành niên ở Illinois đã giảm hơn 30%.

“Nhiều sự sống đã được cứu bởi luật này là có thật và đang hiện diện giữa chúng ta. Ở 37 bang của Hoa Kỳ đều yêu cầu một số hình thức tham gia của cha mẹ khi trẻ vị thành niên tìm cách phá thai. Và trong 8 năm, bang Illinois là một trong số các bang thi hành quy định này, không có vấn đề nào phát sinh”, các Giám mục viết, đồng thời kêu gọi các cử tri yêu cầu các thượng nghị sĩ, đại diện bang và thống đốc phản đối dự luật: “Chúng tôi quan tâm đến sự sống con người, và đặc biệt đối với cuộc đấu tranh của những cô gái trẻ có hoàn cảnh khó khăn và những đứa con chưa chào đời của họ, chúng tôi yêu cầu các bạn tham gia vào nỗ lực này. Cùng nhau, chúng ta sẽ mạnh mẽ và chúng ta có thể tạo ra sự khác biệt”.

Luật “thông báo cho phụ huynh” của bang Illinois đã được thông qua vào năm 1995 nhưng chỉ được thực thi vào năm 2013 sau một cuộc đấu tranh kéo dài tại tòa án. Luật yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ phá thai phải thông báo cho cha mẹ của trẻ vị thành niên muốn phá thai ít nhất 48 giờ trước khi phá thai.

Các Giám mục Illinois cho biết luật này dựa trên hy vọng rằng, cha mẹ sẽ được thúc đẩy bởi “tình yêu sâu sắc và nghĩa vụ đạo đức” và “hành động để bảo vệ, hỗ trợ và hướng dẫn con cái của họ” khi được thông báo.

Các Giám mục viết tiếp: “Trong mọi khía cạnh khác của cuộc sống, chúng ta được dạy – và chúng ta dạy – rằng sự tham gia của cha mẹ là chìa khóa cho lợi ích tốt nhất của trẻ em. Việc bãi bỏ luật này không khác gì một sự xâm phạm của nhà nước vào không gian thánh thiêng cuộc sống gia đình: không hỗ trợ trẻ vị thành niên về mặt tình cảm, nhân đạo hoặc vật chất vào thời điểm quan trọng của cuộc đời”.

Các vị mục tử Giáo hội biết rằng, liên quan đến vấn đề này đôi khi có những khó khăn, nhưng đứng trước khó khăn, cần phải cân nhắc về những tác hại gây ra khi điều này hủy hoại cuộc sống gia đình một cách hiệu quả bằng cách tách con cái ra khỏi sự chăm sóc của cha mẹ, những người yêu thương chúng nhất. Chính phủ phải làm mọi điều có thể để hỗ trợ các gia đình, không gây bất ổn.

Ngọc Yến – Vatican News

ĐTC nhận đơn từ nhiệm của Giám mục Gp Hà Tĩnh và bổ nhiệm Giám quản Tông tòa

 Trưa ngày 19/3 phòng Báo chí Tòa Thánh thông báo Đức Thánh Cha Phanxicô đã chấp thuận đơn từ nhiệm Giám mục Chính tòa giáo phận Hà Tĩnh của Đức cha Phao-lô Nguyễn Thái Hợp. Cùng ngày, Tòa Thánh cũng bổ nhiệm Đức cha Luy Nguyễn Anh Tuấn, hiện là giám mục phụ tá tổng giáo phận thành phố Hồ Chí Minh, làm Giám quản Tông tòa giáo phận Hà Tĩnh.

ĐTC nhận đơn từ nhiệm của Giám mục Gp Hà Tĩnh và bổ nhiệm Giám quản Tông tòa


Tiểu sử Đức Giám mục Phaolô Nguyễn Thái Hợp, O.P.

 Sinh ngày 02 tháng 02 năm 1945 tại giáo xứ Làng Anh (Nghi Phong, Nghi Lộc) Nghệ An
▪ Ngày 15 tháng 08 năm 1964: Vào Tập viện dòng Đa Minh tại Vũng Tàu
▪ 1965 – 1972: Học triết học và thần học tại Học viện Đa Minh Vũng Tàu và Thủ Đức
▪ 1968 – 1971: Học tại Đại học Văn khoa Sài Gòn. Tốt nghiệp Cử nhân Triết học Đông Phương
▪ Thụ phong linh mục ngày 08 tháng 08 năm 1972 tại Sài Gòn
▪ 1972 – 1978: Du học tại Đại học Fribourg (Thụy Sĩ) và tốt nghiệp Tiến sĩ Triết học Tây phương
▪ 1978 – 1979: Học chính trị kinh doanh tại Đại học Genève, Thụy sĩ
▪ 1981 – 1986: Giáo sư tại Phân khoa Thần học Lima, Péru.
▪ 1984 – 1991: Giáo sư và Giám đốc Học vụ của Học viện Thần học Gioan XXIII, Lima, Péru
▪ 1989 – 1994: Trung tâm nghiên cứu Bartolomé de Las Casas, Lima, Péru
▪ Năm 1994: Tốt nghiệp Tiến sĩ Thần học Luân lý tại Phân khoa Thần học Đức Mẹ Lên Trời, São Paulo, Brazil
▪ 1996 – 2004: Giáo sư tại Phân khoa Xã hội thuộc Đại Học Giáo Hoàng Thánh Tôma Aquinô, Roma
▪ 2004 – 2007: Giám Đốc Học vụ của Tỉnh Dòng Đa Minh Việt Nam
▪ Ngày 13 tháng 05 năm 2010, được Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI bổ nhiệm làm Giám mục Giáo phận Vinh. Được truyền chức Giám mục ngày 23 tháng 7 năm 2010, khẩu hiệu Giám mục: “Sự thật và Tình yêu”
▪ Ngày 22 tháng 12 năm 2018, Đức Giáo hoàng Phanxicô thiết lập Giáo phận Hà Tĩnh, tách ra từ Giáo phận Vinh và Đức cha Phaolô được bổ nhiệm làm Giám mục Chính tòa tiên khởi của Giáo phận Hà Tĩnh
Tại Đại hội lần thứ XI (4-8/10/2010) của Hội đồng Giám mục Việt Nam, Ủy ban Công lý và Hòa bình được thành lập, Đức Cha Phaolô được bầu làm Chủ tịch Ủy ban trong nhiệm kỳ đầu tiên, 2010-2013. Tại các Đại hội lần thứ XII (7-11/10/2013) và XIII (3-7/10/2016), Đức Cha Phaolô tiếp tục được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Công lý và Hòa bình trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam.


Tiểu sử Đức Giám mục Luy Nguyễn Anh Tuấn

 Sinh ngày 26 tháng 12 năm 1962 tại Quảng Nam, Đà Nẵng
▪ 1969 – 1979: Học các trường Lasan Mossard, Lasan Taberd Saigon, Trần Quốc Tuấn
▪ 1979 – 1984: Học Đại học Tổng hợp (Khoa học Tự nhiên) Tp. HCM, tốt nghiệp Cử nhân Toán-Tin học
▪ 1993 – 1999: Tu học tại Đại Chủng viện Thánh Giuse Saigon
▪ Thụ phong Linh mục ngày 30 tháng 06 năm 1999 tại nhà thờ Chánh Toà Đức Bà Sài Gòn
▪ 1999 – 2001: Linh mục phụ tá giáo xứ Phú Nhuận, trợ giảng sinh ngữ tại Đại Chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn
▪ 2001 – 2006: Học tại Học viện Gia Đình Gioan-Phaolô II (Đại học Lateranensis), Roma; tốt nghiệp Tiến sĩ Thần học (S.T.D) chuyên biệt về Hôn nhân và Gia đình
▪ 2006: Học về Đào tạo Ơn gọi tại Đại học Gregoriana, Roma
▪ 2006 – 2014: Trung tâm Mục vụ Tổng Giáo phận Sài Gòn – Tp. HCM
▪ 2007 – 2013: Giám đốc Nhà Huấn luyện Tiền Chủng viện Thánh Phaolô Lộc (Dự bị Đại Chủng viện) của Tổng Giáo phận Sài Gòn – Tp. HCM
▪ 2007 – 2017: Trưởng ban Mục vụ Gia đình Tổng Giáo phận Sài Gòn – Tp. HCM; Thư ký Uỷ Ban Mục vụ Gia đình trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam.
▪ 2007 – 2017: Giám đốc Nhà Huấn luyện Tiền Chủng viện Thánh Phaolô Lộc (Dự bị Đại Chủng viện) của TGP Saigon – Tp. HCM
▪ 2009 – 2014: Thư ký Hội đồng Giám mục Việt Nam (Giáo tỉnh Saigon)
▪ 2014 – 2018: Chánh Văn phòng Hội đồng Giám mục Việt Nam
▪ Ngày 25 tháng 08 năm 2017 được Đức Giáo hoàng Phanxicô bổ nhiệm làm Giám mục Phụ tá Tổng Giáo phận thành phố Hồ Chí Minh (hiệu toà Catrum). Được truyền chức Giám mục ngày 14 tháng 10 năm 2017, khẩu hiệu Giám mục: “Này con đây”
Ngày 19 tháng 03 năm 2021, Đức cha Luy Nguyễn Anh Tuấn được bổ nhiệm làm Giám quản Tông Tòa Giáo phận Hà Tĩnh
▪ Tại Đại hội lần thứ XIV (30/9/2019 – 04/10/2019) của Hội đồng Giám mục Việt Nam, Đức cha Luy được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Mục vụ Di dân trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam.

Vatican News

Phút suy tư: Ông Giuđa bán Chúa

 Trong Thiên Chúa giáo, việc ông Giuđa phản bội Chúa Giêsu là việc nổi tiếng.  Nổi tiếng ở chỗ ông bán chính Thầy mình với giá 30 đồng bạc (Mt 27,3).

    


Trong Mùa Chay, nhất là trong Tuần Thánh, tên ông Giuđa được nhắc tới nhiều lần với ý nghĩa xấu.

    Tôi thấy việc hiểu nhân vật này là chuyện không đơn giản.

    Cho dù ông bị mọi người của mọi thế hệ kết án là người phản bội, thì rõ ràng sự phản bội của ông cũng đã trở thành một biểu tượng lớn cho nhiều thứ phản bội khác của bao nhiêu người khác.  Biết đâu trong số đó có chúng ta.

    Vì thế, tôi xin trình bày vài suy nghĩ của tôi.  Suy nghĩ riêng tư, nhưng cũng dựa trên Phúc Âm.

    Được chọn và được trọng dụng.

    Ông Giuđa là người thuộc nhóm 12 môn đệ Đức Kitô.

    Nhóm 12 này được coi là những người được Chúa Giêsu tuyển chọn cách riêng.

    Bốn Phúc Âm đều nhắc đến tên ông Giuđa này, biệt danh là Giuđa Ítcariốt  (Lc 6,16).  Điều hơi đặc biệt là tên ông được nhắc tới không dưới 10 lần.  Đang khi một số môn đệ khác chỉ được nói tới phớt qua.

    Thuộc nhóm 12 đã là một vinh dự lớn.  Thêm vào vinh dự lớn đó, ông Giuđa còn được trao trọng trách giữ tiền.  Với nhiệm vụ giữ tiền chung, ông được coi như người quản lý lo về vật chất và phác họa các kế hoạch cho các di chuyển và việc ăn ở hằng ngày của cộng đoàn.  Nếu gọi ông là người lập kế hoạch cho nhóm về phương diện vật chất, thì cũng không quá đáng.

    Như vậy, ông Giuđa là người tháo vát.  Trong một thời gian dài, ông được Chúa Giêsu tin tưởng và được các bạn tín nhiệm.

    Trước biến cố Chúa Giêsu nạp mình bị bắt, bầu khí trong cộng đoàn không có dấu chỉ nào cho phép dự đoán xấu về ông, khiến các môn đệ phải nghi ngờ ông.

    Tự hào với ý riêng.

    Ông Giuđa, được tiếp cận với Chúa Giêsu kể như thường xuyên, được nghe Người giảng dạy, được chứng kiến nhiều phép lạ Người làm, hơn hữa, ông lại là người Chúa chọn cách riêng.  Nên không thể nghi ngờ về đức tin của ông.

    Trái lại, theo thiển ý của tôi, ông thuộc trường phái Zêlốt gồm những người nhiệt thành về đạo.  Ông rất khao khát Đấng Cứu thế đến.  Ông rất thao thức với việc thiết lập Nước Trời.  Ông tin giờ hạnh phúc đó đã tới gần.

    Bởi vì chính Đức Kitô cũng thỉnh thoảng nói về thời giờ đã gần tới.  Người còn dạy phải cầu nguyện cho Nước Cha trị đến.

    Ông rất tin Thầy mình là Đấng quyền năng.  Ông tin tình hình đã tới lúc đổi mới.  Ông chứng kiến cảnh từng vạn người từ khắp nơi đổ về thủ đô, để tung hô đón Thầy mình từng bừng.  Họ tôn vinh Thầy mình là vua (Mt 24,8-10).  Ông thấy Thầy mình mạnh tay đuổi những kẻ buôn bán khỏi đền thờ (Mt 21,12-13).  Người tỏ mình là Đấng cứu dân (Mt 21,14-17).  Vì thế ông tự hào về hy vọng của ông bao năm hằng ấp ủ.

    Nhưng, chính lúc đó, ông lại thấy Thầy mình tỏ ra không hào hứng chút nào.  Trái lại, Người còn nói xa nói gần về một cái gì u ám sắp xảy ra.  Như “Còn hai ngày nữa là đến lễ Vượt qua, và Con Người sắp bị nộp, để chịu đóng đinh vào thập giá” (Mt 26,2).  Vì thế, ông Giuđa nghĩ rằng: Mình cần phải có một kế hoạch, để việc đắc thắng của Thầy trò mình nhất định phải thực hiện cho bằng được, càng sớm càng tốt.

    Rơi vào những sai lầm trầm trọng.

    Thế là ông đưa ra kế hoạch, ép Chúa Giêsu phải sớm tỏ ra uy quyền và vinh quang, ép Người phải sớm thiết lập một Nước Trời đầy công bình và vâng phục luật Chúa, ép Người phải chứng tỏ mọi hy vọng của ông về Chúa là đúng, là chính đáng.

    Thế là, ông mưu đồ bán Chúa.  Đây chỉ là một chiến lược.

    Nhưng, Giuđa đã sai lầm trầm trọng.

    Sai lầm thứ nhất là ông tưởng Chúa Giêsu, khi bị bắt, sẽ thoát khỏi tay quân dữ một cách dễ dàng. Uy quyền Chúa sẽ tràn lan.  Nhưng Chúa Giêsu lại không làm như ông muốn.

    Sai lầm thứ hai là ông tưởng việc thiết lập Nước Chúa sẽ được thực hiện bằng quyền lực, bằng những thành công rực rỡ lẫy lừng.  Nhưng thánh ý Chúa rất khác.  Nước Chúa sẽ đến qua con đường khiêm tốn, yêu thương tự hạ hy sinh.  Chúa và các môn đệ Người sẽ phải chịu mọi cực hình cho đến chết trên thánh giá để làm chứng nhân cho tình yêu cứu độ.

    Sai lầm thứ ba là ông thiếu khiêm nhường và tỉnh thức trước các lời Chúa khuyến cáo.  Ông tự cao, cứ bám chặt vào cái nhìn chủ quan của mình.

    Sai lầm thứ tư là sau khi sự Chúa bị bắt và bị nhục hình đã đánh thức lương tâm ông, thì ông lại vội thất vọng về Chúa và về chính mình.  Ông tưởng chỉ còn một lối duy nhất để giải quyết lỗi lầm của ông, là treo cổ tự tử.  Ông không nhớ, hoặc không tin vào lòng thương xót của Chúa.  Ông không đủ khiêm nhường, để theo Chúa đến thánh giá, đến mộ, và trở về với nhóm 12.  Họ cũng là những người bội phản, kẻ cách này, người cách khác.  Nhưng họ khiêm tốn vẫn tin theo Chúa trong tâm hồn.  Sau cùng, họ đã gặp Chúa sống lại, và đã được Người thứ tha mọi lỗi lầm, yếu đuối.

Những bài học.

    Với mấy suy nghĩ trên đây, tôi nghiêng về hướng không buộc tội ông chỉ vì tham tiền mà phản bội Chúa.  Thực ra, chỉ có Chúa mới là Đấng có thẩm quyền xét xử ông.

    Riêng tôi chỉ muốn rút ra cho mình những bài học hữu ích.

    Qua sự kiện Giuđa, Chúa Giêsu dạy tôi luôn phải bắt chước Người, trong việc vâng phục thánh ý Chúa Cha.  Vâng phục với tâm tình phó thác tuyệt đối.

    Tôi phải rất thận trọng trong các việc mình tự cho là để làm sáng danh Chúa.  Bởi vì rất nhiều trường hợp, ý Chúa lại rất khác ý ta.  Việc tôi làm tưởng là việc tốt, nhưng trước mặt Chúa lại là một thứ phản bội ơn gọi làm chứng nhân cho Đấng Cứu thế khiêm nhường, khó nghèo, hy sinh.

    Tôi tin Nước Trời sẽ đến.  Nhưng Nước Trời như một hạt giống gieo vào lòng đất.  Hạt giống đó sẽ phát triển và mọc dần dần (Mc 4,26-29).  Chứ Nước Trời không được thiết lập bằng bất cứ quyền lực nào.

    Sự tin cậy phó thác của tôi nơi Chúa mở ra trong tôi một cái nhìn mới.  Tôi tin vào Cha giàu lòng thương xót.  Cha thì biết cái gì là tốt hơn cho con.  Nên trước những xung đột nội tâm, tôi vững tâm nói với Cha lời Chúa Giêsu đã nói ở vườn Cây Dầu: “Cha ơi, Cha có thể làm được mọi sự.  Xin cho con khỏi uống chén này.  Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mc 14,36).

    Nhất là tôi đặt hết tâm tình tôi vào lời phó thác “Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).  Lời phó thác đó là lời sau cùng Chúa Giêsu nói trên thánh giá.  Còn đối với tôi, đó là lời phó thác của mọi ngày, mọi giờ, mọi phút, suốt cả đời tôi.

    Sau cùng, tôi xin Chúa thương giúp tôi biết sử dụng đúng sự tự do, địa vị và các tài năng của mình.  Giuđa đã sử dụng sai các ơn Chúa ban.  Nhưng Chúa không ngăn cản.  Hơn nữa, Chúa còn ưu ái ông.  Vì thế, ông đã đi xa, chìm sâu trong lầm lạc.  Về phương diện này, có thể nói tội phản bội của Giuđa vẫn tái diễn.  Đến nỗi, còn có thể nói thêm: Nếu không biết khiêm nhường tỉnh thức, thì trong mọi người chúng ta vẫn thấp thoáng bóng một Giuđa phản bội.

    Hy vọng đừng ai coi thường tiềm năng phản bội đó nơi chính mình.

 

GM Bùi Tuần


Phần 1

Phần 2

28/02/21 Chúa Nhật Tuần II Mùa Chay

28/02/21 Chúa Nhật Tuần II Mùa Chay

28/02/21 Chúa Nhật Tuần II Mùa Chay

 

BÀI ĐỌC I: St 22, 1-2. 9a. 10-13. 15-18

“Của hiến tế của Abraham Tổ phụ chúng ta”.

Trích sách Sáng Thế.

Trong những ngày ấy, Chúa thử Abraham và nói với ông rằng: “Abraham, Abraham!” Ông đáp lại: “Dạ, con đây”. Chúa nói: “Ngươi hãy đem Isaac, đứa con một yêu dấu của ngươi, và đi đến đất Moria, ở đó ngươi sẽ dâng nó làm của lễ toàn thiêu trên núi Ta sẽ chỉ cho ngươi”.

Khi hai người đến nơi Chúa đã chỉ, Abraham làm một bàn thờ và chất củi lên, rồi trói Isaac lại, đặt lên bàn thờ trên đống củi. Abraham giơ tay lấy dao để sát tế con mình. Bấy giờ thiên thần Chúa từ trời gọi ông rằng: “Abraham, Abraham!” Ông thưa lại: “Dạ, con đây”. Người nói: “Đừng giết con trẻ và đừng động đến nó, vì giờ đây ta biết ngươi kính sợ Chúa, đến nỗi không từ chối dâng đứa con duy nhất cho Ta”. Abraham ngước mắt lên, thấy sau lưng mình có con cừu đực đang mắc sừng trong bụi cây, Abraham liền bắt nó và tế lễ thay cho con mình. Thiên thần Chúa gọi Abraham lần thứ hai và nói rằng: “Chúa phán: Ta thề rằng: vì ngươi đã làm điều đó, ngươi không từ chối dâng đứa con duy nhất của ngươi cho Ta, nên Ta chúc phúc cho ngươi, Ta cho ngươi sinh sản con cái đông đúc như sao trên trời, như cát bãi biển; miêu duệ ngươi sẽ chiếm cửa thành của quân địch, và mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc nơi miêu duệ ngươi, vì ngươi đã vâng lời Ta”.

Đó là lời Chúa.

 

ĐÁP CA: Tv 115, 10 và 15. 16-17. 18-19

Đáp: Tôi sẽ tiến đi trước thiên nhan Chúa trong miền đất của nhân sinh (Tv 114, 9).

Xướng:

1) Tôi đã tin cậy ngay cả trong lúc tôi nói: “Tấm thân tôi trăm phần khổ cực!” Trước mặt Chúa thật là quý hoá cái chết của những bậc thánh nhân Ngài. – Đáp.

2) Ôi lạy Chúa, con là tôi tớ Chúa, con là tôi tớ Ngài, con trai của nữ tỳ Ngài, Ngài đã bẻ gãy xiềng xích cho con. Con sẽ hiến dâng Chúa lời ca ngợi làm sinh lễ, và con sẽ kêu cầu danh Chúa. – Đáp.

3) Tôi sẽ giữ trọn lời khấn xin cùng Chúa, trước mặt toàn thể dân Ngài, trong nơi hành lang nhà Chúa, ở giữa lòng ngươi, Giê-rusalem hỡi! – Đáp.

 

BÀI ĐỌC II: Rm 8, 31b-34

“Thiên Chúa không dung tha chính Con mình”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, nếu Thiên Chúa ủng hộ chúng ta, thì ai có thể chống lại chúng ta? Người không dung tha chính Con mình, nhưng lại phó thác Con vì tất cả chúng ta, há Người lại chẳng ban cho chúng ta mọi sự cùng với Con của Người sao? Ai sẽ tố cáo những kẻ Chúa chọn? (Chẳng lẽ là) chính Chúa, Đấng làm cho nên công chính? Ai sẽ kết án? (Chẳng lẽ là) Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chết và hơn nữa đã sống lại, đang ngự bên hữu Thiên Chúa, cũng đang biện hộ cho chúng ta?

Đó là lời Chúa.

 

CÂU XƯỚNG TRƯỚC PHÚC ÂM: Mt 17, 5

Từ trong đám mây sáng chói, có tiếng Chúa Cha phán rằng: “Đây là Con Ta yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Người”.

 

PHÚC ÂM: Mc 9, 1-9 (Hl 2-10)

“Đây là Con Ta rất yêu dấu”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi ấy, Chúa Giêsu đưa Phêrô, Giacôbê, và Gioan đi riêng với Người lên núi cao, và Người biến hình trước mặt các ông, và áo Người trở nên chói lọi, trắng tinh như tuyết, không thợ giặt nào trên trần gian có thể giặt trắng đến thế. Rồi Êlia và Môsê hiện ra và đàm đạo với Chúa Giêsu. Bấy giờ Phêrô lên tiếng thưa Chúa Giêsu rằng: “Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm. Chúng con xin làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Êlia”. Phêrô không rõ mình nói gì, vì các ông đều hoảng sợ. Lúc đó có một đám mây bao phủ các Ngài, và từ đám mây có tiếng phán rằng: “Đây là Con Ta rất yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Người”. Bỗng nhìn chung quanh, các ông không còn thấy ai khác, chỉ còn một mình Chúa Giêsu với các ông. Và trong lúc từ trên núi đi xuống, Chúa Giêsu ra lệnh cho các ông đừng thuật lại cho ai những điều vừa xem thấy, trước khi Con Người từ cõi chết sống lại. Các ông tuân lời căn dặn đó, nhưng vẫn tự hỏi nhau: “Từ trong cõi chết sống lại nghĩa là gì?”

Đó là lời Chúa.

27/02/21 Thứ Bảy Tuần I Mùa Chay

 

27/02/21 Thứ Bảy Tuần I Mùa Chay
27/02/21 Thứ Bảy Tuần I Mùa Chay

BÀI ĐỌC I:  Đnl 26, 16-19

“Để ngươi trở thành dân thánh của Chúa là Thiên Chúa ngươi”.

Trích sách Đệ Nhị Luật.

Môsê đã nói với dân chúng rằng: “Hôm nay Chúa là Thiên Chúa truyền lệnh cho ngươi phải thi hành các lề luật và các huấn lệnh này; ngươi phải tuân giữ và thực thi các điều đó hết lòng và hết tâm hồn. Hôm nay ngươi đã chọn Chúa làm Thiên Chúa, thì hãy bước đi trong đường lối Người, tuân giữ các lề luật, giới răn và huấn lệnh của Người; hãy vâng lệnh Người. Hôm nay Chúa đã chọn ngươi làm dân riêng Chúa, như Người đã phán với ngươi, thì ngươi hãy tuân giữ mọi giới răn của Người. Người sẽ làm cho ngươi được vinh quang, thanh danh và huy hoàng hơn mọi dân tộc Người đã tạo dựng, để ngươi trở thành dân thánh của Chúa là Thiên Chúa ngươi, như Người đã phán”.

Đó là lời Chúa.

 

ĐÁP CA:  Tv 118, 1-2. 4-5. 7-8

Đáp: Phúc cho những ai tiến thân trong Luật pháp của Chúa (x. c. 1b).

Xướng: 

1) Phúc cho những ai theo đường lối tinh toàn, họ tiến thân trong Luật pháp của Chúa. Phúc cho những ai giữ lời Ngài nghiêm huấn, những người đó tận tâm kiếm tìm Ngài. –  Đáp.

2) Phần Chúa, Ngài ban bố những huấn lệnh, cốt để người ta tuân giữ hết sức ân cần. Nguyện cho đường lối của con vững chắc, để tuân giữ các thánh chỉ của Ngài. –  Đáp.

3) Con ca tụng Chúa với lòng đoan chính, khi học hỏi những thánh dụ của Ngài. Thánh chỉ của Chúa, con tuân giữ, xin Chúa đừng triệt để bỏ rơi con! –  Đáp.

 

CÂU XƯỚNG TRƯỚC PHÚC ÂM:  Am 5, 14

Các ngươi hãy tìm điều lành, chớ đừng tìm điều dữ, để các ngươi được sống và Chúa sẽ ở cùng các ngươi.

 

PHÚC ÂM:  Mt 5, 43-48

“Các ngươi hãy nên trọn lành như Cha các ngươi trên trời”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa phán cùng các môn đệ rằng: “Các con đã nghe dạy: Ngươi hãy yêu thân nhân, và hãy thù ghét địch thù. Còn Ta, Ta bảo các con: Hãy yêu thương thù địch và làm ơn cho những kẻ ghét các con; hãy cầu nguyện cho những ai bắt bớ và nguyền rủa các con, để như vậy các con nên con cái của Cha các con, Đấng ngự trên trời: Người khiến mặt trời mọc lên cho người lành kẻ dữ, và cho mưa xuống trên người liêm khiết và kẻ bất lương. Vì nếu các con yêu thương những ai mến trọng các con, thì các con được công phúc gì? Các người thu thuế không làm như thế ư? Nếu các con chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì các con đâu có làm chi hơn? Những người ngoại giáo không làm thế ư? Vậy các con hãy nên hoàn hảo như Cha các con trên trời là Đấng hoàn hảo”.

Đó là lời Chúa.

26/02/21 Thứ Sáu Tuần I Mùa Chay

26/02/21 Thứ Sáu Tuần I Mùa Chay

26/02/21 Thứ Sáu Tuần I Mùa Chay



 BÀI ĐỌC I:  Ed 18, 21-28

“Có phải Ta muốn kẻ gian ác phải chết, chớ không muốn nó bỏ đàng tội lỗi và được sống ư?”

Trích sách Tiên tri Êdêkiel.

Đây Chúa là Thiên Chúa phán: “Nếu kẻ gian ác ăn năn sám hối mọi tội nó đã phạm, tuân giữ mọi giới răn của Ta, và thực thi công bình chính trực, nó sẽ sống chớ không phải chết. Ta sẽ không nhớ lại mọi tội ác nó đã phạm: nó sẽ sống nhờ việc công chính mà nó đã thực hành! Chúa là Thiên Chúa phán: “Có phải Ta muốn kẻ gian ác phải chết, chớ không muốn nó bỏ đàng tội lỗi và được sống ư?

Còn nếu kẻ công chính bỏ đàng công chính, và phạm tội ác cách ghê tởm như người gian ác quen phạm, có phải nó được sống ư? Chẳng ai còn nhớ đến mọi việc công chính nó đã thực hiện, vì sự bất trung nó đã làm và tội lỗi nó đã phạm, nó sẽ phải chết.

Các ngươi nói rằng: ‘Đường lối của Chúa không chính trực’. Vậy hỡi nhà Israel, hãy nghe đây: Có phải đường lối của Ta không chính trực ư? Hay trái lại đường lối của các ngươi không chính trực? Khi người công chính từ bỏ lẽ công chính và phạm tội ác, nó phải chết, chính vì tội ác nó phạm mà nó phải chết. Nếu kẻ gian ác bỏ đàng gian ác nó đã đi, và thực thi công bình chính trực, nó sẽ được sống. Nếu nó suy nghĩ và từ bỏ mọi tội ác nó đã phạm, nó sẽ sống chớ không phải chết”.

Đó là lời Chúa.

 

ĐÁP CA:  Tv 129, 1-2. 3-4ab. 4c-6. 7-8

Đáp: Nếu Chúa con nhớ hoài sự lỗi, lạy Chúa, nào ai chịu nổi được ư? (c. 3)

Xướng:

1) Từ vực sâu, lạy Chúa, con kêu lên Chúa. Lạy Chúa, xin nghe tiếng con cầu; dám xin Chúa hãy lắng tai, hầu nghe thấu tiếng van nài của con. –  Đáp.

2) Nếu Chúa con nhớ hoài sự lỗi, lạy Chúa, nào ai chịu nổi được ư? Nhưng Chúa thường rộng lượng thứ tha, để cho thiên hạ tôn thờ kính yêu. –  Đáp.

3) Tôi hy vọng rất nhiều vào Chúa, linh hồn tôi trông cậy ở lời Ngài. Linh hồn tôi mong đợi Chúa tôi, hơn người lính gác mong trời rạng đông. –  Đáp.

4) Hơn lính gác mong hừng đông dậy, Israel đang mong đợi Chúa tôi:  Bởi vì Chúa rộng lượng từ bi, và Chúa rất giàu ơn cứu độ. Và chính Ngài sẽ giải thoát Israel cho khỏi mọi   điều gian ác.- Đáp.

 

CÂU XƯỚNG TRƯỚC PHÚC ÂM:  Ga 11, 25a và 26

Chúa phán: “Ta là sự sống lại và là sự sống; ai tin Ta, sẽ không chết đời đời”.

 

PHÚC ÂM:  Mt 5, 20-26

“Hãy đi làm hoà với người anh em ngươi trước đã”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Nếu các con không công chính hơn các luật sĩ và biệt phái, thì các con chẳng được vào Nước Trời đâu. Các con đã nghe dạy người xưa rằng: Không được giết người. Ai giết người, sẽ bị luận phạt nơi toà án. Còn Ta, Ta bảo các con: Bất cứ ai phẫn nộ với anh em mình, thì sẽ bị toà án luận phạt. Ai bảo anh em là “ngốc”, thì bị phạt trước công nghị. Ai rủa anh em là “khùng”, thì sẽ bị vạ lửa địa ngục. Nếu con đang dâng của lễ nơi bàn thờ mà sực nhớ người anh em đang có điều bất bình với con, thì con hãy để của lễ lại trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em con trước đã, rồi hãy trở lại dâng của lễ. Hãy liệu làm hoà với kẻ thù ngay lúc còn đi dọc đường với nó, kẻo kẻ thù sẽ đưa con ra trước mặt quan toà, quan toà lại trao con cho tên lính canh và con sẽ bị tống ngục. Ta bảo thật cho con biết: Con sẽ không thoát khỏi nơi ấy cho đến khi trả hết đồng bạc cuối cùng!”

Đó là lời Chúa.

Kỷ Niệm 100 Năm Tái Lập Quan Hệ Ngoại Giao Giữa Tòa Thánh Và Pháp

 

Kỷ Niệm 100 Năm Tái Lập Quan Hệ Ngoại Giao Giữa Tòa Thánh Và Pháp

 

Kỷ niệm 100 năm tái lập quan hệ ngoại giao giữa Tòa thánh và Pháp
Kỷ niệm 100 năm tái lập quan hệ ngoại giao giữa Tòa thánh và Pháp

Năm 2021 này, Pháp và Tòa Thánh kỷ niệm 100 năm ngày nối lại quan hệ ngoại giao đã bị phá vỡ sau đạo luật về sự tách biệt giữa Giáo hội và nhà nước, được chính phủ Pháp ban hành năm 1905. Trong 17 năm, từ 1904 đến 1921, Pháp không có đại sứ cạnh Tòa thánh. Đây là một sự đổ vỡ lịch sử liên quan đến chiều dài và chiều sâu của mối quan hệ được rèn giũa giữa Giáo hội và Pháp, nước được xem là “trưởng nữ” của Giáo hội.

Tòa Thánh và Pháp đã có quan hệ ngoại giao từ rất lâu đời, được bắt đầu dưới chế độ quân chủ. Từ thế kỷ 16 – chính xác là dưới thời trị vì của vua François đệ nhất – Pháp đảm bảo có một đại sứ thường trú cư trú tại Roma; truyền thống này sẽ kéo dài cho đến năm 1905, năm xảy ra sự đổ vỡ.

Những xung đột 

Những xung đột đầu tiên bắt đầu từ những năm 1880, khi nền đệ tam Cộng hòa thông qua một loạt luật gây bất lợi cho Giáo hội Công giáo và các tổ chức của Giáo hội. Trước hết là luật về giáo dục học đường, tháng 3 năm 1880; nền đệ tam Cộng hòa cho rằng giáo dục công không nên đề cập đến tôn giáo nữa.

Tranh chấp thứ hai liên quan đến tình hình của các dòng tu, và đặc biệt là những dòng có vai trò trong việc giảng dạy. Chính phủ đưa ra luật về quyền tự do tập họp vào tháng 7 năm 1901; theo luật này, các dòng tu muốn hiện hữu cần phải có phép. Trong khi đó, các quan chức Bộ Nội vụ đang xem xét kỹ lưỡng hồ sơ của các dòng tu hiện có và loại bỏ những dòng tu chưa yêu cầu tái cấp phép vào ngày luật định. Sau đó là ​​những vụ trục xuất các tu sĩ.

Năm 1904, với luật “petit Père Combes” nổi tiếng, không có dòng tu nào được phép dạy học nữa. Cùng năm đó, Đại sứ Pháp cạnh Tòa thánh được triệu hồi. Trong 17 năm, trụ sở của Đại sứ quán Pháp tại Roma bị bỏ trống.

Và cuối cùng là luật về việc tách biệt Giáo hội và Nhà Nước được ban hành vào tháng 12 năm 1905. Với luật năm 1905, sự tách biệt là hoàn toàn. Nhà nước không còn can thiệp vào công việc của Giáo hội, và Giáo hội cũng không can thiệp vào công việc của Nhà nước.

Bối cảnh áp dụng các đạo luật

Theo cha Bernard Ardura, chủ tịch Ủy ban Giáo hoàng về Khoa học Lịch sử, để hiểu rõ những gì đã xảy ra vào năm 1880 liên quan đến các dòng tu – bao gồm các dòng lớn và các dòng mới được thành lập -, cần phải nhớ rằng Cộng hòa Pháp chỉ đang áp dụng, bằng cách áp dụng cứng rắn hơn, luật có từ thời Chế độ cũ (trước cuộc Cách mạng Pháp vào năm 1789): ở Pháp , các tu sĩ chỉ có thể hiện hữu với điều kiện nhận được thư cho phép của nhà vua, của Hội đồng Nhà nước (tham chính viện) hoặc Nghị viện. Chính vì lý do này mà vào năm 1880, chính phủ đã ra lệnh giải thể các dòng tu không có sự hiện hữu hợp pháp này.

Vào năm 1880, các cộng đoàn bị giải thể nhưng tài sản vẫn thuộc về quyền sở hữu cá nhân của họ. Trong khi đó vào năm 1905, sẽ có một cuộc cướp sạch hoàn toàn. Nó sẽ bắt đầu với các tu sĩ vào năm 1903; Nhà nước Pháp dùng quân lính trục xuất tất cả những người không được nhìn nhận về pháp lý. Do đó, trào lưu bài giáo sĩ gia tăng và dần dần mạnh mẽ hơn. Khi đó Đức Giáo hoàng Lêô XIII rất được lòng dân chúng, nhưng điều đó không ngăn cản một phong trào rất mạnh mẽ, trong đó Hội Tam điểm đang hoạt động. (…). Và sau đó, năm 1905 đánh dấu sự tan vỡ của quan hệ ngoại giao.

Giáo hội thích ứng với hoàn cảnh

Tòa Thánh chứng kiến sự biến chuyển đó và khuyến khích các tu sĩ làm những gì có thể để tiếp tục sứ mệnh của họ theo cách mà họ cho là phù hợp nhất. Chính vì thế nhiều nữ tu giáo chức đã bỏ tu phục để tiếp tục giảng dạy trong trường học.

Đây cũng là thời điểm các tín hữu thể hiện một sự liên đới và quảng đại phi thường; họ là  những người sẽ giúp Giáo hội có lại được các tài sản. Đó vừa là thời kỳ đau khổ dữ dội sẽ chia rẽ xã hội Pháp, đồng thời cũng là thời điểm thi đua và dấn thân rất mạnh mẽ của các tín hữu.

Khó khăn ngoại giao của Pháp

Sự tan vỡ gây ra nhiều khó khăn đặc biệt là trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Việc không thể chính thức hội đàm với Đức Giáo hoàng, hoặc ít nhất là với Quốc vụ khanh Tòa Thánh hoặc các thành viên của Giáo triều Roma, đã bị một số đảng viên Cộng hòa coi là một khuyết điểm. Nước Pháp muốn có tiếng nói của mình tại Vatican.

Chiến tranh thế giới thứ nhất: cơ hội hòa giải

Chiến tranh thế giới thứ nhất đã dẫn đến một mối quan hệ hợp tác. Ví dụ, các tu sĩ, những người lưu vong ở Bỉ, Thụy Sĩ, Ý, Tây Ban Nha và Anh, vào thời khắc chiến tranh được tuyên bố, họ tự động trở về Pháp để cầm vũ khí và bảo vệ quê hương. Như vậy, trong suốt 4 năm chiến tranh, trong chiến hào, những người cộng sản, chủ nghĩa xã hội, cấp tiến, Tam điểm, linh mục giáo phận, chủng sinh, chiến binh Công giáo tiến hành họp lại với nhau. Và khi chiến tranh kết thúc, điều đó đã biến thành tình bạn vô cùng bền chặt, vốn được đóng ấn trong máu, trong sự sợ hãi và chiến đấu.

Chiến tranh đã mang lại những thay đổi quan trọng ở nhiều cấp độ khác nhau. Thứ nhất, người ta thấy có sự trở lại của người Công giáo với đời sống chính trị sau khi họ đã bị loại trừ phần lớn. Năm 1919, các ứng cử viên Công giáo đã đạt được một số thành công trong cuộc bầu cử lập pháp. Trong số 600 đại biểu được bầu vào Hạ viện, 180 người tự nhận là Công giáo và ủng hộ việc áp dụng vừa phải các luật thế tục.

Sau hiệp định đình chiến, đa số phe Cộng hòa tin rằng đã đến lúc lên tiếng yêu cầu áp dụng các luật thế tục mang tính hòa giải hơn; việc tái lập quan hệ với Tòa thánh phù hợp với logic này. Có thể nói rằng tất cả các điều kiện bên ngoài đã sẵn sàng cho một sự hòa giải thực sự.

Những quan tâm chung của Vatican và Pháp

Bên cạnh những điểm tranh chấp, Vatican và Paris cũng có những điểm chung. Họ có những mối quan tâm chung; một số quan tâm thuộc về chính trị, còn những quan tâm khác về cơ bản là tôn giáo. Trong số các quan tâm chính trị, chúng ta có sự ủng hộ đối với Ba Lan và điều này là vô cùng quan trọng sau Chiến tranh thế giới thứ nhất. Ngoài ra còn có tương lai của vùng sông Rhine, bởi vì ở đó có một phần lớn ngành công nghiệp chế tạo máy móc chiến tranh.

Sau Thế chiến thứ nhất, trong số những biến động mà thế giới phải trải qua, có sự biến mất của Đế chế Ottoman; và tất cả các lãnh thổ từng thuộc về nó, đặc biệt là ở Trung Đông, sẽ trở thành mối quan tâm lớn đối với Tòa thánh và cả nước Pháp. Vấn đề về chế độ bảo hộ Ki-tô hữu ở Trung Đông có liên quan đến điều này. Do đó, Pháp và Tòa thánh sẽ phải đi đến một thỏa thuận để bảo vệ các cộng đoàn Ki-tô đa dạng về nghi lễ, nguồn gốc và văn hóa này.

iếp đến là vấn đề lựa chọn các giám mục, cũng như các xứ truyền giáo. Ví dụ, khi nước Đức bị mất các thuộc địa – như Togo, Camerun và Tanganyka (sau này là Tanzania), vào tay người Anh và người Pháp, các nhà truyền giáo Đức ra đi sẽ làm phát sinh thêm một khoản đầu tư từ các nhà truyền giáo Pháp. Trước sự biến động hoàn toàn này, Nhà nước thực dân và Tòa Thánh cũng phải đi đến một thỏa thuận ở đây.

Thánh nữ Jeanne d’Arc

Điều cuối cùng sẽ đóng ấn sự hòa giải đó là một người nữ: thánh nữ Jeanne d’Arc. Trong lễ phong thánh cho ngài, lần đầu tiên chính phủ Pháp cử một đại sứ đặc biệt: thành viên hàn lâm viện Gabriel Hanoteaux. (…)

Bắt đầu tiến trình tái lập ngoại giao

Ngày 20 tháng 5 năm 1920, Đức Biển Đức XV tiếp ông Hanoteaux, và cả hai cùng thảo luận về vấn đề nối lại quan hệ ngoại giao. Vào ngày 30 tháng 11, Hạ viện bỏ phiếu ngân sách cho việc mở lại đại sứ quán ở Roma và ông Charles Jonnard sẽ được bổ nhiệm làm đại sứ đầu tiên vào ngày 17 tháng 5 năm 1921. Đại sứ quán của Pháp cạnh Tòa Thánh được mở lại với một thỏa thuận về hai điểm: duy trì luật thế tục (tách biệt giữa Giáo hội và Nhà nước) và một thỏa thuận về sự lựa chọn của các giám mục sẽ được thực hiện như thế nào.

Áp dụng luật thế tục để phục vụ ích chung

Cha Ardura nhận định rằng luật tách biệt giữa Giáo hội và Nhà nước như một nguyên tắc đã là một thực tế được chấp nhận trong hơn một thế kỷ. Nhưng ngày nay, điều quan trọng là những thuận tiện mà chúng ta đề xuất. Lấy ví dụ về luật tách biệt này. Những luật này được thực hiện cho một mục đích rất cụ thể, nhưng tất cả các tôn giáo không nên phải gánh chịu hậu quả. Như Đức Hồng Y Parolin đã nói, một luật mới không nên tạo ra những khó khăn mới. Do đó, chúng ta phải xem, trên tinh thần tham vấn, làm thế nào để phục vụ lợi ích chung một cách tốt nhất. Năm 1905, mọi thứ được thực hiện trong bầu không khí xung đột, ngày nay mọi thứ phải được thực hiện để đảm bảo rằng điều này xảy ra trong sự hợp tác, trong một bầu không khí hòa bình.

Hồng Thủy – Vatican News

Bài Tiêu Biểu

- Copyright © Giáo xứ bích trì - Blogger Templates - Powered by Blogger - Designed by Johanes Djogan -