31/03/21 Thứ Tư Tuần Thánh

 

31/03/21 Thứ Tư Tuần Thánh

31/03/21 Thứ Tư Tuần Thánh


BÀI ĐỌC I: Is 50, 4-9a

“Tôi đã không che mặt tránh những người chửi mắng, nhưng tôi biết tôi sẽ không phải thẹn thùng”.

(Bài ca thứ ba của người Tôi Tớ Chúa)

Trích sách Tiên tri Isaia.

Chúa đã ban cho tôi miệng lưỡi đã được huấn luyện, để tôi biết dùng lời nói nâng đỡ kẻ nhọc nhằn. Mỗi sáng Người đánh thức tôi, Người thức tỉnh tai tôi, để nghe lời Người giáo huấn. Thiên Chúa đã mở tai tôi mà tôi không cưỡng lại và cũng chẳng thối lui. Tôi đã đưa lưng cho kẻ đánh tôi, đã đưa má cho kẻ giật râu, tôi đã không che mặt giấu mày, tránh những lời nhạo cười và những người phỉ nhổ tôi. Vì Chúa nâng đỡ tôi, nên tôi không hổ thẹn: nên tôi trơ mặt chai như đá, tôi biết tôi sẽ không phải hổ thẹn. Đấng xét tôi vô tội ở gần tôi, ai còn tranh tụng với tôi được, chúng ta hầu toà. Ai là kẻ thù địch của tôi, hãy đến đây! Này đây Thiên Chúa bênh đỡ tôi, ai dám kết tội tôi?

Đó là lời Chúa.

 

ĐÁP CA: Tv 68, 8-10. 21bcd-22. 31 và 33-34

Đáp: Lạy Chúa, xin nhậm lời con theo lượng cả đức từ bi, đây là lúc biểu lộ tình thương (c. 14c-b).

Xướng:

1) Sở dĩ vì Chúa mà con chịu nhục, và thẹn thò làm nhơ nhuốc mặt con. Con bị những người anh em coi như khách lạ, bị những người con cùng một mẹ xem như kẻ ngoại lai. Sự nhiệt tâm lo việc nhà Chúa khiến con mòn mỏi, điều tủi nhục người ta nhục mạ Chúa đổ trên mình con. – Đáp.

2) Con mong chờ người cảm thương, nhưng không có, mong chờ người an ủi, nhưng chẳng thấy đâu. Cơm con ăn, chúng pha mật đắng, con khát, thì chúng cho uống dấm chua. – Đáp.

3) Con sẽ xướng bài ca ngợi khen danh Chúa, và con sẽ chúc tụng Ngài với bài tri ân. Các bạn khiêm cung, hãy nhìn coi và hoan hỉ, các bạn tìm kiếm Chúa, lòng các bạn hãy hồi sinh: vì Chúa nghe những người cơ khổ, và không chê bỏ con dân của Ngài bị bắt cầm tù. – Đáp.

 

CÂU XƯỚNG TRƯỚC PHÚC ÂM:

Kính lạy Vua chúng con, chỉ có Ngài là Đấng thương hại đến những lỗi lầm của chúng con.

 

PHÚC ÂM: Mt 26, 14-25

“Con Người ra đi như đã được ghi chép sẵn từ trước, nhưng khốn thay cho kẻ sẽ làm cho Ngài bị phản nộp”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, một trong nhóm Mười Hai tên là Giuđa Iscariô, đi gặp các thượng tế và thưa với họ: “Các ông cho tôi bao nhiêu, tôi nộp Người cho các ông?” Họ liền ấn định cho ba mươi đồng bạc. Và từ đó, hắn tìm dịp thuận tiện để nộp Người.

Ngày thứ nhất trong tuần lễ ăn Bánh không men, các môn đệ đến thưa Chúa Giêsu rằng: “Thầy muốn chúng con sửa soạn cho Thầy ăn Lễ Vượt Qua ở đâu?” Chúa Giêsu đáp: “Các con hãy vào thành đến với một người kia, và nói rằng: Thầy bảo, giờ Ta đã gần, Ta sẽ mừng Lễ Vượt Qua với các môn đệ tại nhà ông”. Các môn đệ làm như Chúa Giêsu đã truyền và sửa soạn Lễ Vượt Qua.

Chiều đến, Người ngồi bàn ăn với mười hai môn đệ. Và khi các ông đang ăn, Người nói: “Thầy nói thật với các con: có một người trong các con sẽ nộp Thầy”. Môn đệ rất buồn rầu và từng người bắt đầu hỏi Người: “Thưa Thầy, có phải con không?” Người trả lời: “Kẻ giơ tay cùng chấm vào đĩa với Thầy, đó chính là kẻ sẽ nộp Thầy. Thật ra, Con Người sẽ ra đi như đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nộp Con Người, thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn!”

Giuđa kẻ phản bội cũng thưa Người rằng: “Thưa Thầy, có phải con chăng?” Chúa đáp: “Đúng như con nói”.

Đó là lời Chúa.

30/03/21 Thứ Ba Tuần Thánh

 

30/03/21 Thứ Ba Tuần Thánh

30/03/21 Thứ Ba Tuần Thánh


BÀI ĐỌC I: Is 49, 1-6

“Ta đã làm cho con nên sự sáng các dân tộc, để con trở thành ơn cứu độ Ta ban cho đến tận cùng trái đất”.

(Bài Ca thứ hai của người Tôi tớ Chúa)

Trích sách Tiên tri Isaia.

Hỡi các đảo, hãy nghe tôi đây; hỡi các dân tộc miền xa xăm, hãy chú ý: Chúa đã kêu gọi tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ, đã nhớ đến tên tôi khi tôi còn ở trong bụng mẹ. Người đã làm cho miệng tôi nên như lưỡi gươm sắc bén, đã bảo vệ tôi dưới bóng cánh tay Người, đã làm cho tôi nên như mũi tên nhọn, và đã ẩn giấu tôi trong ống đựng tên. Và Người đã phán cùng tôi: “Hỡi Israel, ngươi là tôi tớ Ta, vì Ta sẽ được vinh hiển nơi ngươi”. Và tôi thưa: “Tôi đã vất vả mất công vô cớ, tôi đã phí sức vô ích; nhưng công lý của tôi ở nơi Chúa; và phần thưởng của tôi ở nơi Thiên Chúa”. Và bây giờ Chúa phán: “Người là Đấng đã tác tạo tôi thành tôi tớ Người, khi tôi còn trong lòng mẹ, để đem Giacóp về cho Người, và quy tụ Israel chung quanh Người. Tôi được vinh hiển trước mặt Chúa, và Thiên Chúa là sức mạnh tôi. Người đã phán: “Con là tôi tớ Ta, để tái lập các chi họ Giacóp, để dẫn đưa các người Israel sống sót trở về; này đây Ta làm cho con nên ánh sáng các dân tộc, để con trở thành ơn cứu độ Ta ban cho đến tận bờ cõi trái đất”.

Đó là lời Chúa.

 

ĐÁP CA: Tv 70, 1-2. 3-4a. 5-6ab. 15 và 17

Đáp: Miệng con sẽ loan truyền sự Chúa công minh (c. 15).

Xướng:

1) Lạy Chúa, con tìm đến nương nhờ Ngài, xin đừng để con tủi hổ muôn đời. Theo đức công minh Chúa, xin cứu nguy và giải thoát con, xin ghé tai về bên con và giải cứu. – Đáp.

2) Xin trở nên thạch động để con dung thân, và chiến luỹ vững bền hầu cứu độ con: vì Chúa là Thạch Đầu, là chiến luỹ của con. Lạy Chúa con, xin cứu con khỏi tay đứa ác. – Đáp.

3) Bởi Ngài là Đấng con mong đợi, thân lạy Chúa; lạy Chúa, Ngài là hy vọng của con tự hồi thanh xuân. Ngay từ trong bụng mẹ, con đã nép mình vào Chúa, từ trong thai mẫu, Chúa là Đấng bảo vệ con. – Đáp.

4) Miệng con sẽ loan truyền sự Chúa công minh, và suốt ngày kể ra ơn Ngài giúp đỡ, thực con không sao mà kể cho cùng. Lạy Chúa, Chúa đã dạy con từ hồi niên thiếu, và tới bây giờ con còn kể những sự lạ của Ngài. – Đáp.

 

CÂU XƯỚNG TRƯỚC PHÚC ÂM:

Kính lạy Vua chúng con, Đấng vâng lời Chúa Cha, Ngài đã bị dẫn đi để chịu đóng đinh vào thập giá, như con chiên hiền lành bị dẫn đi giết.

 

PHÚC ÂM: Ga 13, 21-33. 36-38

“Một người trong các con sẽ nộp Thầy… Trước khi gà gáy con đã chối Thầy ba lần”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, (Chúa Giêsu đang ngồi ăn với các môn đệ), tâm hồn Người bị xao xuyến, nên Người tuyên bố: “Thật, Thầy nói thật cho các con biết, một người trong các con sẽ nộp Thầy”. Các môn đệ nhìn nhau phân vân không biết Người nói về ai. Có một môn đệ được Chúa Giêsu yêu quý, đang ở bàn ăn gần lòng Chúa Giêsu. Vậy Phêrô làm hiệu cho môn đệ ấy và nói: “Hỏi xem Thầy nói về ai đó”. Môn đệ ấy nghiêng mình sát ngực Chúa Giêsu và hỏi Người: “Thưa Thầy, ai vậy?” Chúa Giêsu trả lời: “Thầy chấm miếng bánh trao cho ai là người đó”. Và Người chấm một miếng bánh trao cho Giuđa, con Simon Iscariô. ăn miếng bánh rồi, Satan nhập vào hắn. Chúa Giêsu nói với hắn: “Con tính làm gì thì làm mau đi”. Nhưng những người đang ngồi ăn không một ai hiểu được vì sao Người lại nói với hắn như vậy. Có nhiều người tưởng tại Giuđa giữ túi tiền, nên Chúa Giêsu bảo hắn: Hãy mua những gì chúng ta cần dùng trong dịp lễ, hoặc Người bảo hắn bố thí cho người nghèo. Vậy sau khi nhận miếng bánh đó, Giuđa liền đi ra. Bấy giờ là đêm tối. Khi Giuđa đi rồi, Chúa Giêsu phán: “Bây giờ Con Người được vinh hiển, và Thiên Chúa đã được vinh hiển nơi Người. Nếu Thiên Chúa được vinh hiển nơi Người, thì Thiên Chúa lại cho Người được vinh hiển nơi chính Mình, và Thiên Chúa sẽ cho Người được vinh hiển! Các con yêu quý, Thầy chỉ còn ở với các con một ít nữa. Các con sẽ tìm Thầy, và như Thầy đã nói với người Do-thái: ‘Nơi Ta đi, các ngươi không thể đến được’, nay Thầy cũng nói với các con như vậy”.

Simon Phêrô hỏi Người: “Thưa Thầy, Thầy đi đâu?” Chúa Giêsu trả lời: “Nơi Thầy đi, nay con chưa thể theo tới đó được, nhưng sau này con sẽ theo Thầy”.

Phêrô thưa lại: “Tại sao con lại không theo Thầy ngay bây giờ được! Con sẽ liều mạng sống con vì Thầy”. Chúa Giêsu nói: “Con liều mạng sống vì Thầy ư? Thật, Thầy nói thật cho con biết: trước khi gà gáy, con đã chối Thầy ba lần”.

Đó là lời Chúa.

Tĩnh tâm Mùa Chay cùng Giáo triều Rôma – Bài suy niệm thứ tư của ĐHY Raniero Cantalamessa 26/3/2021

 


Tĩnh tâm Mùa Chay cùng Giáo triều Rôma – Bài suy niệm thứ tư của ĐHY Raniero Cantalamessa 26/3/2021

Tĩnh tâm Mùa Chay cùng Giáo triều Rôma – Bài suy niệm thứ tư của ĐHY Raniero Cantalamessa 26/3/2021



Lúc 9g sáng ngày thứ Sáu 26 tháng Ba, Đức Hồng Y Raniero Cantalamessa, người vừa được Đức Thánh Cha Phanxicô tấn phong Hồng Y hôm 28 tháng 11 năm ngoái, đã có bài thuyết giảng Mùa Chay thứ tư tại Đại Thính Đường Phaolô Đệ Lục ở Vatican. Trong bài giảng này, Đức Hồng Y Giảng Thuyết Viên Phủ Giáo Hoàng đã tập trung vào chủ đề “Chúa Giêsu thành Nagiarét: một bản thể”

Tóm tắt:

Theo Đức Hồng Y, mầu nhiệm Thiên Chúa là duy nhất và ba ngôi không phải điều bí ẩn lớn nhất và khó tiếp cận nhất đối với tâm trí con người cho bằng khẳng định Thiên Chúa là tình yêu, là Đấng yêu thương và hiến dâng chính Ngài vì tôi, một tạo vật khốn khổ và vô ơn. Chúa Giêsu không thể được biết đến như một bản thể, trừ khi chúng ta bước vào mối quan hệ cá vị với Ngài. Đây là trọng tâm của bài giảng Mùa Chay tuần này và cũng là bài giảng sau cùng trong Mùa Chay năm nay.

Vị Hồng Y chỉ ra rằng, trong hai thiên niên kỷ qua, các nhà thần học, các Công Đồng của Giáo hội và các Giáo phụ đã đi đến việc xác lập rằng Chúa Giêsu có hai bản tính, là ‘con người thật’ và ‘Thiên Chúa thật’, nhưng hai bản tính ấy kết hợp trong một bản thể duy nhất. Điều này đòi hỏi phải khám phá và tuyên bố rằng Chúa Giêsu Kitô không phải là một ý tưởng, một vấn đề lịch sử hay chỉ là một nhân vật, mà Ngài là một bản thể và là một bản thể sống động! Đây là điều còn thiếu và là điều chúng ta cần tránh nhất để Kitô Giáo không bị giản lược thành một ý thức hệ hay đơn giản chỉ là thần học.

Vị Hồng Y Dòng Anh Em Hèn Mọn khiêm tốn thừa nhận rằng đây cũng là trường hợp của ngài. “Tôi nhận ra rằng tôi biết những sách viết về Chúa Giêsu, các giáo lý và dị giáo về Chúa Giêsu, các khái niệm về Chúa Giêsu, nhưng tôi không biết Ngài, với tư cách là một người đang sống hiện diện ở đây và bây giờ. Ít ra thì tôi đã không biết Người theo cách đó khi tôi tiếp cận Người qua các nghiên cứu lịch sử và thần học của tôi. Cho đến lúc đó tôi đã có một sự hiểu biết vô vị về con người của Chúa Kitô. Một mâu thuẫn về mặt thuật ngữ và là một nghịch lý, nhưng, than ôi, thường xuyên làm sao!”

Đức Hồng Y cho rằng ngài thiếu kinh nghiệm của Thánh Phaolô, kinh nghiệm của một cuộc gặp gỡ cá vị với Chúa Giêsu trên đường đến Đamát.

Chúng ta cần tự hỏi mình một câu hỏi nghiêm túc: Chúa Giêsu là ai đối với tôi? Ngài là một bản thể hay một nhân vật? Có một sự khác biệt lớn giữa hai điều này. Nhân vật – chẳng hạn như Giuliô Xêxa, Leonardo da Vinci, Napôlêon – là người mà bạn có thể viết và nói nhiều tùy thích, nhưng không thể nói chuyện được với họ. Thật không may, đối với đại đa số Kitô hữu, Chúa Giêsu là một nhân vật, không phải là một bản thể. Ngài là chủ đề của một tập hợp các tuyên bố tín lý, học thuyết và dị giáo; một nhân vật mà chúng ta tưởng nhớ khi chúng ta cử hành phụng vụ, chúng ta tin rằng nhân vật ấy thực sự hiện diện trong Bí tích Thánh Thể, v.v. Tuy nhiên, nếu chúng ta vẫn ở mức độ tin tưởng khách quan, mà không phát triển mối quan hệ hiện sinh với Người, thì Người vẫn ở bên ngoài chúng ta, Người chạm vào tâm trí chúng ta mà không sưởi ấm trái tim chúng ta. Dù thế nào đi nữa, Người vẫn ở trong quá khứ; thậm chí, một cách vô thức, cách xa chúng ta đến hai ngàn năm. Trên nền tảng của tất cả những điều này, chúng ta hiểu tầm quan trọng của lời mời gọi mà Đức Thánh Cha Phanxicô đã đặt ở đầu Tông huấn Niềm Vui Phúc Âm này:

Tôi mời gọi tất cả các Kitô hữu, ở khắp mọi nơi, ngay lúc này, đến với cuộc gặp gỡ cá vị mới mẻ với Chúa Giêsu Kitô, hoặc ít nhất là mở lòng ra để Người gặp gỡ họ. Tôi yêu cầu tất cả anh chị em làm điều này không ngừng mỗi ngày. Không ai được nghĩ rằng lời mời này không dành cho mình. (Evangelii Gaudium 3).

Quan niệm hiện đại về sự tôn trọng và phẩm giá của con người bắt nguồn từ việc con người mang trong mình hình ảnh của Thiên Chúa. Tuy nhiên, nguồn gốc của khái niệm này có thể được hiểu trong bản chất của Thiên Chúa Ba Ngôi, đó là tình yêu. Chúng ta có được bản sắc của mình như một con người không phải bằng cách xa rời người khác nhưng bằng cách hiệp thông với họ trong và bằng một tình yêu ‘không mưu lợi riêng’ (1Cr 13,5) nhưng bằng lòng hy sinh bản thể của chính mình để giúp người kia tồn tại và trở thành tha nhân. Đó chính xác là cách tồn tại được tìm thấy trên Thập giá của Chúa Kitô, nơi tình yêu thần thánh tự bộc lộ hoàn toàn trong sự tồn tại của chính con người chúng ta.”

Do đó, ‘mối quan hệ cá vị’ của chúng ta với Chúa Kitô về cơ bản là mối quan hệ yêu thương. Nó bao gồm cả việc được yêu bởi Chúa Kitô và yêu mến Chúa Kitô. Và khi mối quan hệ này được thực hiện, những khổ nạn như đau khổ, túng quẫn, bắt bớ, đói kém, trần truồng, hiểm nguy, hoặc gươm giáo – như Thánh Phaolô đã đề cập – sẽ không tách rời chúng ta khỏi tình yêu của Chúa Kitô. Là một phương pháp chữa lành nội tâm dựa trên tình yêu thương, vị Tông đồ Dân ngoại mời gọi chúng ta nhìn vào tất cả những nguy hiểm và khổ nạn này, bao gồm cả đại dịch Covid-19 hiện tại, dưới ánh sáng của ý nghĩ rằng Thiên Chúa yêu thương tôi, vì “Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta?”

Bản tiếng Anh và các ngôn ngữ khác có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.

Sách Tông đồ Công vụ kể lại tình tiết sau đây. Khi Agrippa đến Caesarea, thống đốc Festus đệ trình vụ án của Phaolô, đang bị giam giữ, chờ xét xử. Viên thống đốc tóm tắt trường hợp của Phaolô với nhà vua bằng những lời sau: ‘Những người đã đổ lỗi cho anh ta […] có một số vấn đề với anh ta liên quan đến tôn giáo của họ và về một Giêsu nào đó đã chết nhưng Phaolô lại tuyên bố người ấy còn sống’ (Cv 25: 18-19 ). Chi tiết này, xem ra có vẻ là thứ yếu, nhưng tóm tắt lịch sử của hai mươi thế kỷ sau thời điểm đó. Mọi thứ vẫn xoay quanh ‘một Giêsu nào đó’ mà thế giới tuyên bố đã chết và Giáo hội tuyên bố là còn sống.

Trong bài suy niệm cuối cùng này, chúng ta dự định đi sâu vào sự thật rằng Chúa Giêsu thành Nagiarét còn sống! Ngài không phải là ký ức của quá khứ; Ngài không chỉ là một nhân vật, nhưng là một bản thể. Chắc chắn, Ngài sống ‘bởi Thánh Linh’, nhưng cách sống này mạnh hơn cách sống khác ‘bởi xác thịt’, vì nó cho phép Ngài sống bên trong chúng ta, không phải bên ngoài hay bên cạnh chúng ta.

Khi xem xét lại tín lý này, chúng ta đã đi đến nút thắt nối hai đầu lại với nhau. Như tôi đã nói ở phần đầu, Chúa Giêsu, ‘con người thật’ và Chúa Giêsu, ‘Thiên Chúa thật’, giống như hai cạnh của một hình tam giác, và đỉnh là Chúa Giêsu ‘một bản thể’. Chúng ta hãy nhớ lại một cách vắn tắt tín điều về sự hiệp nhất bản tính của Chúa Kitô đã bắt nguồn như thế nào. Công thức ‘một bản thể’ áp dụng cho Chúa Kitô có từ thời Tertullian, nhưng phải mất hơn hai thế kỷ suy ngẫm để hiểu ý nghĩa thực sự của điều đó và làm thế nào nó có thể được dung hòa với tuyên bố rằng Chúa Giêsu là người thật và là Thiên Chúa thật, nghĩa là ‘thuộc hai bản tính’.

Một giai đoạn quan trọng là Công đồng Êphêsô năm 431, nơi danh hiệu của Đức Maria Theotokos, đấng đã sinh ra Thiên Chúa, được xác định. Nếu Đức Maria có thể được gọi là ‘Mẹ Thiên Chúa’, mặc dù chỉ sinh ra bản tính con người của Chúa Giêsu, thì điều đó có nghĩa là trong Chúa Kitô, nhân tính và thần tính tạo thành một bản thể duy nhất. Tuy nhiên, mục tiêu cuối cùng chỉ đạt được tại Công đồng Chalcedon vào năm 451, với công thức mà chúng ta muốn trích dẫn ở đây trong phần liên quan đến sự hợp nhất của Chúa Kitô:

Noi theo các Thánh phụ, tất cả chúng tôi đồng thanh dạy

chỉ có một và cùng một Chúa Con, Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta [..],

các thuộc tính của mỗi bản tính vẫn được nguyên vẹn

và gặp gỡ nhau trong một bản thể và một ngôi vị duy nhất

Nếu việc chấp nhận hoàn toàn định nghĩa Nicê mất một thế kỷ, thì việc chấp nhận hoàn toàn định nghĩa thứ hai này đã kéo dài hàng thế kỷ tiếp theo, cho đến ngày nay. Chỉ nhờ vào định hướng thuận lợi gần đây đối với đối thoại đại kết, người ta mới có thể khôi phục lại sự hiệp thông giữa cái được gọi là Giáo hội Nestoriô và Đơn Nhất Tính của Đông phương và Giáo hội Chính thống. Trong hầu hết các trường hợp, người ta nhận thấy rằng sự khác biệt nằm ở thuật ngữ hơn là tín lý. Tất cả đều phụ thuộc vào ý nghĩa được gán cho từ ‘bản tính’ và ‘bản thể’ hoặc ‘ngôi vị’

Từ tính từ ‘một’ đến danh từ ‘bản thể’

Một lần nữa, khi đã bảo đảm được nội dung bản thể luận và khách quan của tín lý này, để hồi sinh nó, giờ đây chúng ta cần làm nổi bật các chiều kích chủ quan và hiện sinh của tín lý đó. Thánh Grêgoriô Cả nói rằng Kinh thánh ‘phát triển cùng với những người đọc nó’ (cum legentibus crescit). Điều tương tự cũng nên áp dụng cho tín lý. Tín lý là một ‘cấu trúc mở’: và nó ngày càng lớn mạnh và phong phú hơn, theo thước đo là Giáo hội, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, khi trải nghiệm những vấn đề mới và đối mặt với những nền văn hóa mới.

Thánh Irênô đã nói điều đó với tầm nhìn ngoại thường vào cuối thế kỷ thứ hai, khi ngài viết rằng một sự thật được mạc khải ‘giống như một loại rượu mùi có giá trị được đựng trong một cái bình có giá trị. Nhờ Chúa Thánh Thần, sự thật này ngày càng trẻ ra và làm trẻ lại cái bình đựng nó”. Giáo hội có thể đọc Kinh thánh và tín lý theo cách luôn luôn mới, bởi vì chính tín lý được làm mới bởi Chúa Thánh Thần! Đó là bí mật tuyệt vời và đơn giản đằng sau tuổi trẻ lâu năm của Truyền thống và do đó, của những tín lý là biểu hiện cao nhất của Truyền thống. Một học giả vĩ đại về tín lý Kitô Giáo của thế kỷ trước, Jaroslav Pelikan đã viết rằng “Truyền thống là đức tin sống động của người chết, chủ nghĩa duy truyền thống là đức tin chết của người sống”.

Ngoài ra, tín điều về Chúa Kitô ‘một bản thể’ là một cấu trúc mở và nó có thể đáp ứng những nhu cầu mới của đức tin, không giống với những nhu cầu của thế kỷ thứ năm. Ngày nay, không ai phản đối việc Chúa Kitô là ‘một người’. Như chúng ta đã thấy lần trước, có một số người phủ nhận bản tính ‘Thiên Chúa’ của Ngài và thích nói rằng Chúa Kitô là một con người ‘trần thế’, trong đó Thiên Chúa cư ngụ hoặc tác động một cách siêu phàm. Tuy nhiên, không ai phủ nhận rằng Chúa Giêsu là một người duy nhất.

Yếu tố quan trọng nhất liên quan đến tín điều Chúa Kitô là ‘một bản thể’, không nằm nhiều trong tính từ ‘một’ như trong danh từ ‘bản thể’. Thực tế rằng Chúa Giêsu Kitô là ‘một và cùng một (unus et idem), không quan trọng cho bằng Ngài là một ‘bản thể’. Điều này đòi hỏi phải khám phá và tuyên bố rằng Chúa Giêsu Kitô không phải là một ý tưởng, một vấn đề lịch sử hay chỉ là một nhân vật, mà Ngài là một bản thể và là một bản thể sống động! Đây là điều còn thiếu và là điều chúng ta cần tránh nhất để Kitô Giáo không bị giản lược thành một ý thức hệ hay đơn giản chỉ là thần học.

Mục tiêu liên tục của chúng ta là làm sống lại tín lý, bắt đầu lại từ nền tảng Kinh thánh của tín lý này. Vì vậy, chúng ta hãy ngay lập tức chuyển sang chính Kinh thánh. Chúng ta hãy bắt đầu từ trang Tân Ước tường thuật ‘cuộc gặp gỡ cá vị’ nổi tiếng nhất với Chúa Phục Sinh từng xảy ra trên trái đất này: đó là cuộc gặp gỡ của Tông đồ Phaolô. ‘Saulô, Saulô, sao ngươi bắt bớ ta?’ ‘Ngài là ai?’ ‘Ta là Chúa Giêsu, người mà ngươi đang bắt bớ! “ (x. Cv 9: 4-5). Thật là một ánh sáng mạnh mẽ! Hai mươi thế kỷ sau, ánh sáng đó vẫn chiếu rọi Giáo hội và trên thế giới. Nhưng chúng ta hãy đọc chính cách thánh nhân mô tả sự kiện này:

Những gì xưa kia tôi cho là có lợi, thì nay, vì Đức Kitô, tôi cho là thiệt thòi. Hơn nữa, tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Kitô Giêsu, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Kitô và được kết hợp với Người. Được như vậy, không phải nhờ sự công chính của tôi, nhưng nhờ sự công chính do lòng tin vào Đức Kitô, tức là sự công chính do Thiên Chúa ban, dựa vào đức tin được biết Người. (Phi; 3:7-10)

Tôi gần như ngượng ngùng khi dám thêm kinh nghiệm ít ỏi của mình vào kinh nghiệm của vị Tông đồ. Nhưng chính Phaolô, với câu chuyện của mình, đã khuyến khích ta làm điều đó, chính xác là để làm chứng cho ân sủng của Thiên Chúa. Trong khi nghiên cứu và giảng dạy Kitô học, tôi đã tự mình nghiên cứu khá nhiều về khái niệm ‘bản thể’ trong thần học, về các định nghĩa và những cách giải thích khác nhau về khái niệm này. Tôi đã biết những cuộc thảo luận bất tận về bản thể hay ngôi vị duy nhất của Chúa Kitô trong thời đại Byzantine, những phát triển hiện đại của khái niệm này liên quan đến chiều kích tâm lý của con người, với vấn nạn theo sau là cái ‘Tôi’ của Chúa Kitô, vốn đang được tranh luận trong thời nghiên cứu thần học của tôi. Theo một nghĩa nào đó, tôi biết mọi thứ về con người của Chúa Giêsu, nhưng tôi không biết Chúa Giêsu một cách cá vị!

Chính đoạn thư này của Thánh Phaolô đã giúp tôi hiểu được sự khác biệt. Trên hết là câu: ‘được biết Người.’ Đại từ đơn giản đó – ‘Người’ (auton) – đối với tôi dường như chứa đựng nhiều sự thật về Chúa Giêsu hơn là toàn bộ các quan điểm về Kitô học. ‘Người’ có nghĩa là Chúa Giêsu Kitô ‘bằng xương bằng thịt.’ Nó giống như gặp một người trực tiếp, sau khi đã biết bức ảnh của họ trong nhiều năm. Tôi nhận ra rằng tôi biết những sách viết về Chúa Giêsu, các giáo lý và dị giáo về Chúa Giêsu, các khái niệm về Chúa Giêsu, nhưng tôi không biết Ngài, với tư cách là một người đang sống hiện diện ở đây và bây giờ. Ít ra thì tôi đã không biết Người theo cách đó khi tôi tiếp cận Người qua các nghiên cứu lịch sử và thần học của tôi. Cho đến lúc đó tôi đã có một sự hiểu biết vô vị về con người của Chúa Kitô. Một mâu thuẫn về mặt thuật ngữ và là một nghịch lý, nhưng, than ôi, thường xuyên làm sao!

Ngôi vị là trong mối quan hệ

Suy ngẫm về khái niệm ngôi vị trong Chúa Ba Ngôi, thánh Augustinô trước tiên và thánh Tôma Aquina sau ngài, đã đi đến kết luận rằng ‘ngôi vị’, trong Thiên Chúa, có nghĩa là mối quan hệ. Chúa Cha là như thế trong mối quan hệ của Ngài với Chúa Con: tất cả bản thể của Ngài đều bao gồm trong mối quan hệ này, vì Chúa Con là như vậy trong mối quan hệ của Ngài với Chúa Cha. Tư tưởng hiện đại đã xác nhận sự sáng suốt này. Như nhà triết học Hegel đã viết: ‘Nhân cách đích thực bao gồm việc phục hồi bản thân bằng cách lao vào người khác.’ Một người là một người đang trong hành động mở lòng với một người ‘khác’ thông qua sự so sánh lẫn nhau mà qua đó họ có được nhận thức về bản thân. Trở thành một người là tình trạng ‘ở trong mối quan hệ.’

Điều này đặc biệt áp dụng cho các ngôi vị thần linh của Thiên Chúa Ba Ngôi, là ‘những mối quan hệ thuần túy’, hoặc theo thuật ngữ thần học là ‘mối quan hệ tồn tại’; tuy nhiên điều này cũng áp dụng cho mọi người trong cõi được tạo thành. Con người được đề cập không được biết trong thực tế của người ấy trừ khi nhập vào ‘mối quan hệ’ với họ. Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu không thể được biết đến như một bản thể, trừ khi ta bước vào mối quan hệ cá nhân từ một cái ‘Tôi’ đến ‘Người’, với Ngài. ‘Đức tin không kết thúc với các định nghĩa, nhưng với các sự vật,’ như thánh Tôma Aquina đã nói. Chúng ta không thể hài lòng với việc tin vào ‘một bản thể’ như một công thức, nhưng chúng ta cần tiếp cận với người đó và thông qua đức tin và lời cầu nguyện, ‘chạm’ vào điều ấy.

Chúng ta cần tự hỏi mình một câu hỏi nghiêm túc: Chúa Giêsu là ai đối với tôi? Ngài là một bản thể hay một nhân vật? Có một sự khác biệt lớn giữa hai điều này. Nhân vật – chẳng hạn như Giuliô Xêxa, Leonardo da Vinci, Napôlêon – là người mà bạn có thể viết và nói nhiều tùy thích, nhưng không thể nói chuyện được với họ. Thật không may, đối với đại đa số Kitô hữu, Chúa Giêsu là một nhân vật, không phải là một bản thể. Ngài là chủ đề của một tập hợp các tuyên bố tín lý, học thuyết và dị giáo; một nhân vật mà chúng ta tưởng nhớ khi chúng ta cử hành phụng vụ, chúng ta tin rằng nhân vật ấy thực sự hiện diện trong Bí tích Thánh Thể, v.v. Tuy nhiên, nếu chúng ta vẫn ở mức độ tin tưởng khách quan, mà không phát triển mối quan hệ hiện sinh với Người, thì Người vẫn ở bên ngoài chúng ta, Người chạm vào tâm trí chúng ta mà không sưởi ấm trái tim chúng ta. Dù thế nào đi nữa, Người vẫn ở trong quá khứ; thậm chí, một cách vô thức, cách xa chúng ta đến hai ngàn năm. Trên nền tảng của tất cả những điều này, chúng ta hiểu tầm quan trọng của lời mời gọi mà Đức Thánh Cha Phanxicô đã đặt ở đầu Tông huấn Niềm Vui Phúc Âm này:

Tôi mời gọi tất cả các Kitô hữu, ở khắp mọi nơi, ngay lúc này, đến với cuộc gặp gỡ cá nhân mới mẻ với Chúa Giêsu Kitô, hoặc ít nhất là mở lòng ra để Người gặp gỡ họ. Tôi yêu cầu tất cả anh chị em làm điều này không ngừng mỗi ngày. Không ai được nghĩ rằng lời mời này không dành cho mình. (Evangelii Gaudium 3).

Trong cuộc sống của hầu hết mọi người, có một sự kiện nào đó chia cuộc sống ấy thành hai phần, được ghi dấu là “trước” và “sau” sự kiện ấy. Đối với những người đã kết hôn, đó là cuộc hôn nhân của họ, và họ phân chia cuộc sống của họ như thế này: “trước khi kết hôn” và “sau khi kết hôn”; đối với các giám mục và linh mục thì đó là sự thánh hiến hay phong chức của các ngài; đối với những người tận hiến đó là lễ tuyên khấn của họ. Theo quan điểm tâm linh, chỉ có một sự kiện xác định một cách triệt để ‘trước’ và ‘sau’. Cuộc sống của mọi người được phân chia giống hệt như lịch sử vũ trụ: ‘trước Chúa Kitô’ và ‘sau Chúa Kitô’, trước cuộc gặp gỡ cá vị của họ với Chúa Giêsu và sau đó.

Chúng ta có thể nhìn thoáng qua cuộc gặp gỡ này, nghe về điều đó, khao khát điều đó, nhưng chỉ có một cách để trải nghiệm điều đó. Nó không phải là thứ bạn có thể đạt được bằng cách đọc sách hoặc nghe giảng. Chúng ta chỉ có thể đạt được điều đó nhờ tác động của Chúa Thánh Thần! Vì vậy, chúng ta biết ai để cầu xin điều đó và chúng ta biết rằng Người không mong đợi điều gì khác ở chúng ta. Per tesciamus da Patrem, noscamus atque Filium: ‘Xin ban cho chúng con để nhờ Ngài, chúng con có thể biết Chúa Cha và chúng con cũng có thể biết Chúa Con’ để chúng con có thể biết Người qua một trải nghiệm thay đổi cuộc đời.

Chúa Kitô, như một bản thể ‘thần thánh’

Tuy nhiên, chúng ta cần phải tiến thêm một bước nữa. Nếu chúng ta dừng lại ở đây, chúng ta sẽ bỏ lỡ sự mặc khải an ủi nhất được bao hàm trong tín điều về Chúa Kitô là một bản thể ‘thần thánh’. Chúng ta sẽ không bao giờ biết ơn đủ đối với Giáo hội sơ khai vì đã chiến đấu, đôi khi theo nghĩa đen cho đến giọt máu cuối cùng, để giữ vững chân lý rằng Chúa Kitô là ‘một bản thể duy nhất’ và bản thể này không gì khác hơn chính là Con Thiên Chúa hằng sống, một trong ba ngôi vị của Chúa Ba Ngôi. Chúng ta hãy cố gắng hiểu tại sao.

Sự đóng góp hiệu quả nhất và lâu bền nhất của Thánh Augustinô cho thần học là việc sáng lập tín điều Ba Ngôi dựa theo tuyên bố của Thánh Gioan: ‘Thiên Chúa là tình yêu’ (1Ga 4: 8). Tình yêu nào cũng kéo theo một người đang yêu, một người được yêu, và tình yêu hợp nhất giữa họ. Và chính trong những thuật ngữ này, Thánh Augustinô định nghĩa ba ngôi vị thần linh: Chúa Cha là Đấng yêu thương, Chúa Con là người được yêu thương và Chúa Thánh Thần là tình yêu liên kết các Ngài.

Không có tình yêu nào mà không phải là tình yêu dành cho ai đó hay dành cho cái gì đó, cũng như không có kiến thức mà không có cái gì đó cần biết. Không có tình yêu ‘trống rỗng’, không có đối tượng. Do đó, chúng ta có thể tự hỏi; Thiên Chúa yêu ai để tình yêu ấy được định nghĩa là tình yêu? Thiên Chúa có yêu con người không? Điều đó có nghĩa là Thiên Chúa đã yêu chỉ trong vài trăm triệu năm.Thiên Chúa có yêu vũ trụ không? Điều đó có nghĩa là Thiên Chúa đã yêu trong hàng chục tỷ năm. Và trước đó Chúa yêu ai trong tình yêu của Ngài? Lời giải thích được tiết lộ trong Kinh thánh và được Giáo hội làm sáng tỏ nói rằng Thiên Chúa là tình yêu đến muôn đời, ab aeterno, bởi vì, trước khi có bất cứ điều gì để yêu bên ngoài Ngài, Ngài đã có Ngôi Lời bên trong chính mình, là người Con mà Ngài yêu với tình yêu vô bờ bến, đó là ‘trong Chúa Thánh Thần.’

Điều này không giải thích ‘làm thế nào’ sự hiệp nhất có thể đồng thời là Ba Ngôi (đây là một mầu nhiệm mà chúng ta không thể biết được vì điều đó chỉ xảy ra nơi Thiên Chúa), nhưng nó đủ để chúng ta hiểu “tại sao”, trong Thiên Chúa, sự đa dạng không mâu thuẫn với sự hiệp nhất. Đó là bởi vì ‘Chúa là tình yêu’! Nếu một vị Chúa hoàn toàn là kiến thức hay luật pháp, hoặc hoàn toàn là quyền năng, thì chắc chắn Ngài sẽ không cần phải là ba ngôi (thực tế là điều đó sẽ khiến mọi thứ trở nên phức tạp hơn); nhưng một Thiên Chúa, trên hết mọi sự, là tình yêu, có thể là ba ngôi, bởi vì không thể có tình yêu giữa ít hơn hai người.

Theo quan điểm của tôi, điều bí ẩn lớn nhất và khó tiếp cận nhất đối với tâm trí con người không phải là Thiên Chúa là duy nhất và ba ngôi, mà là Thiên Chúa là tình yêu. Như Henry de Lubac đã viết: ‘Thế giới cần biết: Sự mặc khải Thiên Chúa là tình yêu phá vỡ tất cả những gì thế giới tưởng tượng trước đây về thần thánh’ Điều đó rất đúng, nhưng trên thực tế, chúng ta còn lâu mới rút ra được tất cả những kết luận cần thiết từ cuộc cách mạng đó. Bằng chứng cho điều này là hình ảnh của Thiên Chúa thịnh hành trong vô thức con người là hình ảnh của một hữu thể tuyệt đối, chứ không phải là một tình yêu tuyệt đối; một Thiên Chúa toàn trí và toàn năng và trên hết là một đấng công bình. Tình yêu và lòng thương xót được coi là một biện pháp sửa chữa uốn nắn công lý. Chúng là số mũ, không phải là cơ số.

Chúng ta, những người hiện đại, tuyên bố rằng con người là giá trị tối cao cần được tôn trọng trong mọi lĩnh vực, là nền tảng cuối cùng của phẩm giá con người. Tuy nhiên, nguồn gốc của khái niệm hiện đại này chỉ có thể được hiểu bằng cách bắt đầu từ Chúa Ba Ngôi. Nhà thần học Chính thống Johannes Zizioulas đã nêu bật quan niệm này rất rõ ràng, bằng cách cho thấy sự sinh hoa kết quả và làm phong phú lẫn nhau đạt được trong cuộc đối thoại giữa thần học Latinh và Hy Lạp về Chúa Ba Ngôi. Trong nhiều tác phẩm của mình, ông cho thấy khái niệm hiện đại về con người là một nhánh trực tiếp của học thuyết Ba Ngôi và ông giải thích như thế này:

“Tình yêu là một phạm trù bản thể học bao gồm việc cho người khác có chỗ để tồn tại như tha nhân và có được sự tồn tại của mình trong và thông qua tha nhân ấy. Đó là một thái độ tự hạ mình, một sự trao ban bản thân […]. Đó là điều xảy ra trong Thiên Chúa Ba Ngôi, nơi Chúa Cha yêu thương hiến mình cho Chúa Con và để Người tồn tại như một Người Con. […] Vậy, đây là ý nghĩa của việc trở thành một con người dưới ánh sáng của thần học Ba Ngôi. Nó đòi hỏi một cách tồn tại mà chúng ta có được bản sắc của mình không phải bằng cách xa rời người khác nhưng bằng cách hiệp thông với họ trong và bằng một tình yêu ‘không mưu lợi riêng’ (1Cr 13,5) nhưng bằng lòng hy sinh bản thể của chính mình để giúp người kia tồn tại và trở thành tha nhân. Đó chính xác là cách tồn tại được tìm thấy trên Thập giá của Chúa Kitô, nơi tình yêu thần thánh tự bộc lộ hoàn toàn trong sự tồn tại của chính con người chúng ta.”

Vì vậy, là một Ngôi vị trong Ba Ngôi Thiên Chúa, Đức Kitô có một mối quan hệ yêu thương với chúng ta, đó là nền tảng cho sự tự do của chúng ta (x. Gl 5, 1). ‘Người đã yêu tôi và xả thân vì tôi’ (Gl 2,20): người ta có thể dành hàng giờ để lặp lại điều này với chính mình trong sự ngạc nhiên không ngừng. Người, là Chúa, đã yêu tôi, một sinh vật vô ơn khốn khổ! Người đã hiến thân – mạng sống của mình, máu của chính mình – cho tôi. Đặc biệt cho tôi! Ta chìm trong vực thẳm kinh ngạc đó!

Do đó, ‘mối quan hệ cá vị’ của chúng ta với Chúa Kitô về cơ bản là mối quan hệ yêu thương. Nó bao gồm cả việc được yêu bởi Chúa Kitô và yêu mến Chúa Kitô. Điều đó áp dụng cho tất cả mọi người nhưng có một ý nghĩa đặc biệt đối với các mục tử của Giáo hội. Sau Thánh Augustinô, nhiều người lặp lại rằng tảng đá mà Chúa Giêsu hứa sẽ thành lập Giáo hội của mình là đức tin của Phêrô, vì Người đã tuyên bố Người là ‘Đấng Mêsia, Con của Thiên Chúa hằng sống.’ (Mt 16:16). Tôi nghĩ rằng chúng ta đang bỏ qua những gì Chúa Giêsu đã nói khi giao nhiệm vụ đó cho Thánh Phêrô: ‘Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có mến Thầy hơn các anh em này không? … Hãy chăm sóc chiên của Thầy!’ (x. Ga 21: 15-16). Sứ vụ mục tử kín múc sức mạnh bí mật từ tình yêu dành cho Chúa Kitô. Đức ái, không thua kém đức tin, khiến người mục tử nên một với tảng đá là Chúa Kitô.

‘Điều gì sẽ ngăn cách chúng ta khỏi tình yêu của Chúa Kitô?’

Tôi muốn kết thúc bằng cách nêu bật hệ quả của tất cả những điều này đối với cuộc sống của chúng ta, vào thời điểm đại nạn cho toàn thể nhân loại như thời điểm hiện tại. Hãy để Tông đồ Phaolô giải thích điều đó cho chúng ta. Trong Thư gửi các tín hữu Rôma, thánh nhân viết:

Điều gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo? (Rm 8:35)

Đó không phải là một danh sách trừu tượng và chung chung. Những nguy hiểm và khổ nạn mà thánh nhân liệt kê là những điều mà ngài thực sự đã trải qua trong cuộc đời mình. Ngài mô tả chi tiết về chúng trong Thư thứ hai gửi tín hữu Côrinhtô, nơi ngài thêm vào những thử thách được liệt kê ở đây một thử thách khiến ngài đau khổ nhất, đó là sự chống đối cố chấp từ một số thành viên trong cộng đồng của ngài (x. 2Cor 11: 23ff.). Nói cách khác, vị Tông đồ đã khảo sát trong tâm trí của mình tất cả những thử thách mà ngài đã phải chịu đựng, xác minh rằng không có thử thách nào là quá khó đối với với tình yêu của Chúa Kitô và do đó, kết thúc một cách đắc thắng rằng: ‘Trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta’ (Rm 8:37).

Vị Tông đồ ngầm mời gọi mỗi người chúng ta hãy làm như vậy. Ngài gợi ý một phương pháp chữa lành nội tâm dựa trên tình yêu. Ngài mời gọi chúng ta bộc lộ tất cả những nỗi đau của trái tim, nỗi buồn, nỗi sợ hãi, sự phức tạp, chẳng hạn như khiếm khuyết về thể chất hoặc đạo đức không cho phép chúng ta vui vẻ chấp nhận bản thân như hiện tại, ký ức đau đớn hoặc nhục nhã, sai lầm mà chúng ta phải chịu đựng, sự phản đối vô cảm điếc lác của người khác… Ngài mời gọi chúng ta nhìn tất cả điều này dưới ánh sáng của ý nghĩ rằng Thiên Chúa yêu thương tôi và ngăn chặn bất kỳ suy nghĩ tiêu cực nào, tự nói với chính mình giống như vị Tông đồ: ‘Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta?’ (Rm 8:31).

Ngay sau đó, Tông đồ Phaolô nâng tầm mắt khỏi cuộc sống cá nhân của mình để bao quát thế giới xung quanh ngài và hiện sinh của con người nói chung:

Cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta.(Rm 8: 38-39).

Một lần nữa, ngay cả ở đây cũng không phải là một danh sách trừu tượng. Thánh nhân nhìn vào thế giới ‘của riêng mình’, cùng với những sức mạnh khiến nó trở nên bị đe dọa: cái chết với sự bí ẩn của nó, cuộc sống hiện tại với sự bất định của nó, sức mạnh của các vì sao hoặc của địa ngục đã gây ra rất nhiều nỗi kinh hoàng cho con người thời cổ đại. Một lần nữa, chúng ta được mời làm điều tương tự: hãy nhìn bằng con mắt đức tin vào thế giới xung quanh chúng ta và khiến chúng ta kinh hoàng hơn nữa khi giờ đây con người đã có được sức mạnh để phá vỡ nó bằng vũ khí và sự thao túng của chính mình. Cái mà Thánh Phaolô gọi là ‘chiều cao’ và ‘chiều sâu’ là dành cho chúng ta – trong kiến thức nâng cao của chúng ta về các chiều kích của vũ trụ – cái lớn vô cùng phía trên chúng ta và cái nhỏ vô cùng bên dưới chúng ta. Hiện tại, nguyên tố nhỏ bé vô tận đó là coronavirus, đã khiến cả nhân loại phải quỳ gối trong một năm.

Một tuần sau sẽ là Thứ Sáu Tuần Thánh và ngay sau đó là Lễ Phục Sinh, Chúa Nhật Phục Sinh. Bằng cách sống lại từ cõi chết, Chúa Giêsu không quay trở lại cuộc sống trước đây như Lagiarô, nhưng chuyển sang một cuộc sống tốt hơn, không phải lo lắng. Chúng ta hãy hy vọng điều đó cũng sẽ xảy ra như vậy đối với chúng ta – hãy hy vọng rằng, như Đức Thánh Cha vẫn thường nhắc đến, thế giới có thể trỗi dậy từ ngôi mộ của đại dịch, không giống như trước đây, mà là một thế giới tốt đẹp hơn.


1.Tertullian, Adversus Praxean, 27, 11.
2.Denzinger – Schoenmetzer, Enchiridion Symbolorum, nrs. 301-302.
3.St Gregory the Great, Moralia in Job, XX, 1.
4.St Irenaeus, Adversus Haereses, III, 24,1.
5.Jaroslav Pelikan, The Christian Tradition: A History of the Development of Doctrine, 5 vols. (1973–1990). Chicago: University of Chicago Press
6.St Augustine, De Trinitate, V,5,6.
7.F. Hegel, Lectures on the Philosophy of Religion, Humanity Press, vol. III, New York, 1962, p.25.
8.St Thomas Aquinas, S.Th., II-IIae, q.1, a.2, ad 2.
9.St Augustine, De Trinitate, VI, 5, 7; IX, 22.
10.H. de Lubac, Histoire et Esprit, Aubier, Parigi 1950, ch. 5.
11.J. Zizioulas, L’idea di persona umana deriva dalla Trinità: [Ý tưởng về con người nhân loại từ Chúa Ba Ngôi], Bài giảng tại Milan năm 2015.

Thế Giới Nhìn Từ Vatican

29/03/21 Thứ Hai Tuần Thánh

 

29/03/21 Thứ Hai Tuần Thánh

29/03/21 Thứ Hai Tuần Thánh

BÀI ĐỌC I: Is 42, 1-7

“Người sẽ không lớn tiếng; không ai nghe tiếng người ở công trường”.

Trích sách Tiên tri Isaia.

Này là tôi tớ Ta mà Ta nâng đỡ, là người Ta tuyển chọn, Ta hài lòng về người. Ta ban Thần trí Ta trên người. Người sẽ xét xử chư dân. Người sẽ không lớn tiếng, không thiên vị ai, không ai nghe tiếng người ở công trường. Người không bẻ gãy cây lau bị giập, không dập tắt tim đèn còn khói. Người sẽ xét xử trong công lý. Người sẽ không buồn phiền, không nao núng, cho đến khi đặt công lý trên mặt đất, vì các đảo mong đợi lề luật người.

Chúa là Thiên Chúa đã phán như thế, Người là Đấng đã tác tạo và mở rộng các tầng trời, đã củng cố mặt đất và các sản phẩm của nó, đã ban hơi thở cho dân sống trên mặt đất và ban sức sống cho những kẻ trên đó. Ta là Chúa, Ta đã gọi con trong công lý, đã cầm lấy tay con, đã gìn giữ con, đã đặt con thành giao ước của dân, và nên ánh sáng của chư dân, để con mở mắt cho người mù, đưa ra khỏi tù những người bị xiềng xích, đưa ra khỏi ngục những người ngồi trong tối tăm.

Đó là lời Chúa.

 

ĐÁP CA: Tv 26, 1. 2. 3. 13-14

Đáp: Chúa là sự sáng, và là Đấng cứu độ tôi (c. 1a).

Xướng:

1) Chúa là sự sáng, là Đấng cứu độ, tôi sợ chi ai? Chúa là Đấng phù trợ đời tôi, tôi sợ gì ai? – Đáp.

2) Khi những đứa ác xông vào để xả thịt tôi, bọn thù ghét tôi sẽ xiêu té và ngã gục. – Đáp.

3) Nếu thiên hạ đồn binh hạ trại để hại tôi, lòng tôi sẽ không kinh hãi; nếu thiên hạ gây chiến với tôi, tôi vẫn tự tin. – Đáp.

4) Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh. Hãy chờ đợi Chúa, hãy sống can trường, hãy phấn khởi tâm hồn và chờ đợi Chúa! – Đáp.

 

CÂU XƯỚNG TRƯỚC PHÚC ÂM:

Kính chào Vua chúng con: Chỉ có nhà Vua là người thương hại đến những lỗi lầm của chúng con.

 

PHÚC ÂM: Ga 12, 1-11

“Hãy để mặc cô ấy làm công việc chỉ về ngày táng xác Ta”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Sáu ngày trước Lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu đến làng Bêtania, nơi Ladarô đã chết được Người cho sống lại. Tại đây người ta dọn bữa cho Người ăn. Martha hầu bàn. Còn Ladarô cũng là một trong những kẻ đồng bàn với Người. Bấy giờ Maria lấy một cân dầu thơm, dầu cam tùng hảo hạng, và xức chân Chúa Giêsu, rồi lấy tóc mình mà lau. Hương thơm toả đầy nhà. Một môn đệ là Giuđa Iscariô, kẻ sẽ phản nộp Người, liền nói: “Sao không bán dầu thơm đó lấy ba trăm đồng mà cho người nghèo khó?” Hắn nói thế không phải vì lo lắng cho người nghèo khó đâu, mà vì hắn là tên trộm cắp, lại được giữ túi tiền, nên bớt xén các khoản tiền người ta bỏ vào đó. Vậy Chúa Giêsu nói: “Hãy để mặc cô ấy làm công việc chỉ về ngày táng xác Ta. Vì các ngươi sẽ có người nghèo luôn bên cạnh các ngươi, còn Ta, các ngươi sẽ không gặp Ta mãi đâu”.

Có đám đông người Do-thái biết Người đang ở đó, nên tuôn đến, không những vì Chúa Giêsu, mà còn để thấy Ladarô, kẻ đã chết được Người cho sống lại. Thế là các Thượng tế quyết định giết luôn cả Ladarô, vì tại ông mà nhiều người Do-thái đã bỏ họ và tin theo Chúa Giêsu.

Đó là lời Chúa.

Phép lạ Thánh Thể ngoạn mục, được nhanh chóng công nhận tại Hà Lan và cuộc hành hương Stille Omgang

 

Phép lạ Thánh Thể ngoạn mục, được nhanh chóng công nhận tại Hà Lan và cuộc hành hương Stille Omgang

Phép lạ Thánh Thể ngoạn mục, được nhanh chóng công nhận tại Hà Lan và cuộc hành hương Stille Omgang


Hà Lan: Cuộc đi bộ trong im lặng tại Amsterdam năm nay buộc phải diễn ra trực tuyến.

Cuộc đi bộ trong im lặng truyền thống qua các đường phố Amsterdam, được tổ chức hàng năm vào tháng Ba, không thể diễn ra theo cách thông thường trong năm nay do những hạn chế liên quan đến coronavirus.

Đó là lý do tại sao từ đêm Thứ Bảy 20 đến đêm Chúa Nhật 21 tháng 3, đã có một loạt các cơ hội trực tuyến, với một buổi cử hành Thánh Thể được truyền trực tiếp và một cuộc rước, để tưởng nhớ phép lạ Thánh Thể năm 1345. Một chương trình đặc biệt, cũng dưới dạng trực tuyến, đã được phát cho những người trẻ. Nó được mở đầu bằng bài phát biểu của Cha Jan Stuyt thuộc Dòng Tên về chủ đề lắng nghe và suy ngẫm về cuộc đời của Cha Frans van der Lugt, người đã tử vì đạo ở Syria.

Sau đó là các buổi hội thảo, thời gian cho việc chầu Mình Thánh Chúa và suy tư do cha tuyên úy giới trẻ Nars Beemster hướng dẫn. Sau đó, những người trẻ đã tham gia Thánh lễ được truyền trực tiếp từ Vương cung thánh đường Thánh Nicholas ở Amsterdam. Cuối cùng là một cuộc rước video ảo. Ban tổ chức viết: “ Thật là vô cùng đáng buồn khi truyền thống Stille Omgang ở Amsterdam bị gián đoạn trong năm nay. Chúng tôi hy vọng rằng sự kiện kỹ thuật số sẽ là công cụ tạo ra sự kết nối khiến chúng ta cảm thấy đoàn kết với nhau trong tình cảnh này nhờ Chúa Giêsu Kitô”.

Cuộc đi bộ trong im lặng tại Hà Lan

Cuộc đi bộ trong im lặng, tiếng Hà Lan là “Stille Omgang”, là một nghi lễ không chính thức của Giáo Hội Công Giáo tại quốc gia này, thay thế cho các cuộc rước kiệu bị cấm sau cuộc Cải cách Tin lành ở Hà Lan vào thế kỷ 16. Trong các cuộc đi bộ trong im lặng này, cuộc đi bộ nổi tiếng nhất là tại thủ đô Amsterdam, vào tháng Ba hàng năm.

Cuộc đi bộ trong im lặng này tưởng niệm Phép lạ Thánh Thể, diễn ra vào ngày 16 tháng 3 năm 1345. Một người đàn ông hấp hối được ban Mình Thánh Chúa và các nghi thức cuối cùng. Tuy nhiên, ngay khi rước lễ, ông bị nôn mửa.

Theo các quy định của phụng vụ vào thời đó, Mình Thánh đã được đưa vào lửa để tiêu hủy, nhưng vẫn còn nguyên vẹn một cách kỳ diệu và được lấy ra từ đống tro tàn vào ngày hôm sau.

Phép lạ này nhanh chóng được công nhận bởi chính quyền thành phố Amsterdam và Đức Giám Mục Utrecht, và một nhà nguyện hành hương lớn, đặt tên là Heilige Stede, nghĩa là “Thánh địa” được xây dựng trên nền ngôi nhà của người quá cố. Con đường từ nhà thờ chính tòa thành phố đến nhà nguyện này được gọi là Heiligeweg.

Ban đầu, anh chị em giáo dân hành hương cá nhân, vừa đi vừa lần chuỗi Mân Côi từ nhà thờ chính tòa thành phố đến nhà nguyện này. Sau cuộc Cải cách Tin lành ở Hà Lan vào thế kỷ 16, mọi cuộc rước sách đều bị cấm, nên thay vì hành hương cá nhân, các tín hữu Công Giáo đi thành từng nhóm như một hình thức rước kiệu nhưng không có các cờ xí, ảnh tượng để khỏi bị bắt bớ.

Ngày thứ Tư đầu tiên sau ngày 12 tháng Ba, Giáo Hội tại Hà Lan mừng lễ Mirakelfeest, nghĩa là Phép lạ Thánh Thể. Sau ngày thứ Tư này, các Cuộc đi bộ trong im lặng sẽ diễn ra từ tối thứ Bẩy đến tối Chúa Nhật ngay sau ngày thứ Tư đó.

Thế Giới Nhìn Từ Vatican

ĐHY Tổng trưởng Bộ Tu sĩ: tu sĩ là chứng tá sự thiện mỹ của Thiên Chúa

ĐHY Tổng trưởng Bộ Tu sĩ: tu sĩ là chứng tá sự thiện mỹ của Thiên Chúa
ĐHY Tổng trưởng Bộ Tu sĩ: tu sĩ là chứng tá sự thiện mỹ của Thiên Chúa


Trong thư gửi các tu sĩ nam nữ nhân dịp kỷ niệm 25 năm thánh Giáo hoàng Gioan Phao-lô II ban hành Tông huấn Đời sống thánh hiến, Đức Hồng y João Braz de Aviz, Tổng trưởng Bộ Tu sĩ, khuyến khích các tu sĩ làm chứng cho sự cao đẹp của Chúa Ki-tô bằng sự phục vụ vui tươi của mình.

Thiện mỹ là một trong những đặc tính của Thiên Chúa. “Nếu Thiên Chúa là sự thiện mỹ và Chúa Giê-su là Đấng toàn mỹ nhất giữa con cái loài người thì việc được thánh hiến cho Chúa là điều tốt đẹp. Tu sĩ được kêu gọi làm chứng tá cho sự thiện mỹ của Thiên Chúa.” Đức Hồng y Braz de Aviz nhận định: “Trong một thế giới có nguy cơ chìm vào sự tàn bạo đáng lo ngại, via pulchritudinis (con đường của vẻ đẹp) dường như là cách duy nhất để đi đến sự thật hoặc làm cho nó trở nên đáng tin cậy và hấp dẫn.”

Trong thư, Đức Hồng y cảm ơn các tu sĩ đã đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa và ngài bày tỏ tình liên đới với họ “trong gian khổ và chịu đựng” không chỉ vì đại dịch mà cả trong những biến cố thường ngày của cộng đồng dân sự và xã hội, và mời gọi họ trở thành các chứng nhân để đánh thức ý nghĩa hy vọng nơi tất cả mọi người.

Đời sống thánh hiến quan trọng đối với sứ mạng của Giáo hội

Đức Hồng y Braz de Aviz nhắc lại rằng trong Tông huấn Đời sống thánh hiến, được ban hành năm 1996, các nghị phụ của Thượng Hội đồng giám mục lần thứ IX, nhiều lần khẳng định rằng “đời sống thánh hiến nằm ở trung tâm của Giáo Hội như một yếu tố quyết định đối với sứ mạng của Giáo Hội.”

Dù tông huấn được ban hành trong thời kỳ vô cùng bất ổn, và thiếu sự dấn thân, tài liệu xác định chắc chắn căn tính của đời sống thánh hiến: là “một biểu tượng của Chúa Kitô biến hình”. Do đó Đức Hồng y kêu gọi các tu sĩ kết hợp chiều kích thần linh và con người trong việc phục vụ hàng ngày, kết hợp giữa “sự thiện mỹ tuyệt vời cần được chiêm ngưỡng và sự nghèo nàn đau khổ cần được phục vụ.”

Tương quan

Từ đó Đức Hồng y suy tư về đặc tính trung tâm của “mối tương quan” trong đời thánh hiến. Trước hết, đời sống thánh hiến được hình thành trong và nhờ sự hiệp thông của Thiên Chúa Ba Ngôi và nó hướng các tu sĩ tìm kiếm “sự thánh thiện của cộng đoàn: không phải của những người cô độc hoàn hảo, nhưng của những tội nhân nghèo, những người hàng ngày chia sẻ và trao cho nhau lòng thương xót và sự hiểu biết.”

Có cùng những tình cảm của Chúa Giê-su

Tiếp đến Đức Hồng y lưu ý rằng tông huấn Đời sống thánh hiến trình bày một “yếu tố mới” trong việc huấn luyện đào tạo các tu sĩ. Việc đào tạo trong đời sống tu trì nhắm giúp con người “có cùng những tình cảm của chính Chúa Con, Đấng vâng phục, người Tôi tớ đau khổ, con Chiên vô tội.” Ngài nói: “Người Kitô hữu chúng ta tin vào một Thiên Chúa nhạy cảm: Người nghe tiếng kêu rên của kẻ bị áp bức và lắng nghe lời van xin của bà góa; đau khổ với con người và vì con người. Chúng ta muốn tin rằng đời sống thánh hiến, với nhiều đặc sủng, chính là biểu hiện của sự nhạy cảm này.

Hồng Thủy – Vatican News

Lễ Cưới Người Công Giáo

Lễ Cưới Người Công Giáo
Lễ Cưới Người Công Giáo


Sau Thánh lễ, chúng tôi ra về. Cổng nhà thờ vẫn khóa. Nhưng chỉ vài phút chờ mở cửa mà mỗi người Công Giáo lại có mỗi suy tư khác nhau. Ai cũng nói rằng lễ cưới hôm nay thật đơn sơ. Có chị bảo: Thà cứ đơn sơ thế này còn hơn là to tát. Mà kể cũng lạ, cứ như là cái dớp vậy, cứ Thánh lễ cưới hoành tráng là sau đó sống với nhau chẳng ra gì… Trăm phần trăm đấy… Tôi chợt quay lại và bảo chị: Không phải đâu chị ơi, tất cả là do bản chất và sự giáo dục trong gia đình của họ thôi. Chứ Thánh lễ nào chả có ơn Chúa, do họ sống sau này chứ đâu phải do dớp gì đâu….Rồi chúng tôi ra về, từ nhà thờ, chúng tôi lại về trên mọi nẻo đường đời sống…


Mỗi lần tham dự Thánh lễ cử hành Bí tích Hôn Phối cho đôi bạn là tôi lại thấy chộn rộn niềm vui hơn mọi ngày. Đặc biệt là vẫn giờ ấy, ngày thường ấy nhưng khi tới Nhà thờ, thật bất ngờ khi thấy khăn nơ, nến và hoa rực rỡ. Bất ngờ hơn nữa là tôi được Đức Kitô mời dự lễ cưới…, thật bất ngờ! Từ bất ngờ ấy, tôi thấy mình cũng như được Cưới vậy. Chỉ khác là khi đôi bạn trẻ thề hứa yêu nhau trước ban thờ Chúa thì cũng là lúc trái tim tôi như đang lặp lại lời thề hứa khi chịu Phép Rửa tội đoan hứa chung thủy với Chúa trong đời sống Đức Tin tới trọn đời…


Mỗi người Công Giáo tham dự Thánh lễ mỗi ngày đã là một chứng nhân truyền giáo cho Chúa thì tham dự Thánh lễ cử hành Bí tích Hôn Phối lại càng phải trở nên chứng nhân truyền giáo hữu hiệu hơn. Bởi vì không ít thì nhiều, không đông thì thế nào cũng có điểm tô vài bông hoa chưa ở trong vườn hoa của Chúa vào tham dự Thánh lễ. Bởi vì có Thánh lễ cử hành bí tích Hôn phối cho đôi bạn xuất thân từ gia đình toàn tòng nhưng cũng có Thánh lễ cử hành bí tích Hôn phối cho đôi bạn một người Đạo gốc, một người Tân tòng, nên khi họ tới Nhà thờ thì đám đông đi theo có nhiều người ngơ ngơ ngác ngác chưa biết đám cưới của người Công Giáo ra sao cả. Thậm chí người ta ăn mặc rõ là thời trang, trang điểm rõ là ấn tượng như trên sân khấu và họ cứ tưởng Nhà thờ là cái rạp hát (vì thấy ghế ngồi hơi giông giống), rồi ồn ào chọn chỗ ngồi phía trên để nhìn cô dâu, chú rể cho rõ, rồi cử chỉ ngồi trong Nhà thờ khi cắn hạt hướng dương, khi vắt vẻo chân, khi dùng điện thoại… Có lần tôi còn chứng kiến, cô dâu và chị chú rể (có lẽ về vấn đề giáo lý này, người Đạo gốc cũng chưa được hiểu hết thì phải) trước khi vào Thánh lễ còn đứng hẳn lên gian Cung Thánh gần Bàn thờ Chúa chụp ảnh… Có lẽ họ cứ nghĩ rằng đó là một sân khấu chăng? Họ không nhớ ra hay chưa có ai nói cho họ biết rằng Gian cung Thánh và nơi Bàn thờ Chúa là dành cho những cử chỉ phụng vụ chỉ được thực hiện bởi những người được Giáo Hội chỉ định? Giật mình vậy để rồi âm thầm cầu nguyện cho họ nhiều hơn để họ được nhạy cảm hơn và chú ý hơn. Thật ra tất cả những điều này khi học giáo lý Dự tòng và Hôn nhân, học viên đều được các cha, thầy và sơ giảng rất kỹ. Nhưng cũng vì khi màu hồng của háo hức cứ rực lên trong đôi mắt, trong trái tim về tương lai rồi thì đôi khi hai lỗ tai cứ lùng bùng nghe chẳng còn rõ nữa… Chúa đã nhắc bao lần: “Ai có tai thì nghe” rồi mà….


Nói tới chứng nhân truyền giáo cho Chúa trong Thánh lễ cử hành Bí tích Hôn phối cho đôi bạn thật quan trọng biết nhường nào. Mỗi một người Công Giáo trong Thánh lễ ngày thường lặng lẽ là vậy nhưng hôm nay bỗng nổi bật vì từng cử chỉ phụng vụ Chúa, từng lời nói nhắn nhủ anh chị em không Công Giáo, từng thái độ ánh mắt dịu dàng, nụ cười hân hoan và mời gọi anh chị em ấy tham dự vào cầu nguyện cho đôi bạn hay là cử chỉ phụng vụ qua loa, chỉ dè chừng, chực nhắc nhở, mắng mỏ họ… đều trở nên có tác dụng gây cảm động hay là phản cảm ngay. Trong Chúa, chúng ta có muôn vàn cách để biểu lộ việc chúng ta muốn làm. Dù niềm tin khác nhau, dù ngôn từ khác nhau nhưng có chung một ngôn ngữ, ngôn ngữ của cơ thể, ta có thể mời họ ngồi cùng ghế của ta và khi ấy họ sẽ nhìn ta, họ sẽ theo ta trong Thánh lễ. Và đặc biệt tới giờ Hiệp lễ, thì ta có thể nhẹ nhàng nói với họ rằng: Bạn ngồi yên đây nhé. Chưa là người Công Giáo thì chưa được lên rước lễ đâu. Rồi trước khi vào Nhập lễ, ta có thể giơ cái điện thoại đã tắt nguồn hoặc để chế độ im lặng lên cho họ xem, ra hiệu cho họ làm như ta. Ấy thế là họ hiểu ngay. Hoặc chỉ cần nói với họ rằng: Đây là nơi thờ tự của chúng tôi, các bạn hãy tôn trọng như chính nơi thừa tự của các bạn vậy. Có lẽ sẽ có tác dụng hơn hét to lên rằng: “Đây là Nhà Chúa, không được làm ồn….” Bởi vì khi người ta chưa được lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy và nhất là trong một thời gian ngắn có vài chục phút vậy thì những người ngoại đạo kia họ chẳng hiểu gì đâu. Họ chỉ thấy bực mình hoặc thấy rằng những người Công Giáo sao mà ghê gớm quá.


Ấy là nói tới sự truyền giáo bên ngoài của người Công Giáo nếu dùng những phương thức đơn sơ chân thành thế nào cũng có tác dụng. Nhưng phương thức mà Chúa dùng để truyền giáo cho dân ngoại sâu xa và siêu nhiên triệt để đó chính là Bầu khí thiêng liêng khi linh mục cử hành Mầu nhiệm Thánh. Khi thả mình vào Thánh lễ, cố gắng không chú ý tới những gì bên ngoài nữa, tôi bỗng nhận ra, tất cả những gì con người gồng mình lên để làm cho thế giới biến đổi thì chẳng là bao nếu không có Ơn Chúa giúp. Chính Chúa mới là trung tâm điểm của Thánh lễ chứ đâu phải những thứ hoa, nến, điện đèn và những người Công Giáo đạo đức kia đâu. Tuy thế, Chúa lại muốn dùng Linh mục qua bài giảng rất gần gũi về tình gia đình, tình yêu phu phụ vị tha và những người Công Giáo qua cử chỉ phụng vụ của họ để trở nên chứng nhân truyền giáo cho Chúa. Có quan sát toàn bộ Thánh lễ mới thấy rõ sự nhẫn nại của Chúa, sự ung dung của Chúa từ trên cao nhìn xuống khi Nhà thờ còn ồn ào nhốn nháo vì chọn chỗ ngồi, vì chọn người dâng của lễ… vì người bước thấp bước cao, chạy đi chạy lại lo toan cho kịp giờ lễ… tới khi thật sự bước vào Thánh lễ với bầu khí trang nghiêm và siêu thoát lạ thường. Vậy cớ sao người Công Giáo ta cứ lo lắng rằng những người ngoại đạo kia sẽ làm hỏng buổi lễ cơ chứ. Cánh cổng Nhà thờ hôm nay rộng mở đón họ, có người cả đời mới một lần có dịp vào Nhà thờ kia mà…


Ừ nhỉ, hay ghê cơ. Nên rốt cuộc, mỗi chúng ta, mỗi người Công Giáo đã được Chúa trao phó cho sứ mệnh làm chứng nhân cho Ngài thì xin hãy cứ bền bỉ cho tới trot cuộc đời, vậy thôi….


Lạy Chúa, xin Ngài thêm sức mạnh Tình Yêu của Ngài cho chúng con để mỗi người Công Giáo chúng con trở nên chứng nhân truyền giáo đích thực của Ngài. Amen.


Thánh lễ Hôn phối 21.02.2011 – Tín hữu tân tòng

Bài Tiêu Biểu

- Copyright © Giáo xứ bích trì - Blogger Templates - Powered by Blogger - Designed by Johanes Djogan -